Khu dự trữ sinh quyển Langbiang được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ sinh quyển thế giới vào năm 2015 tại phiên họp lần thứ 27 của Hội đồng Điều phối Quốc tế Chương trình Con người và Sinh quyển cà trở thành KDTSQ đầu tiên tại vùng Cao nguyên.

Nằm ở phía bắc tỉnh Lâm Đồng, có diện tích 275.439 ha đất và có khu rừng nguyên sinh rộng lớn mà cốt lõi là Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà. Nơi đây được đánh giá là một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam.

Đọc thêm: LangBiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển

Nằm ở độ cao từ 650 – 2.300 mét, Langbiang là nơi có hệ sinh thái tự nhiên vô cùng đa dạng, bao gồm cả hệ sinh thái trên cạn và dưới nước. Nó cũng chứa đựng tất cả các sinh cảnh rừng tự nhiên là môi trường sống của động vật hoang dã.

Trong đó, ta không thể không nhắc đến những người bạn toàn thân lúc nào ẩm ướt và trơn trượt đó là các loài lưỡng cư tạ đây. Hệ lưỡng cư tại KDTSQ Langbiang vô cũng đa dạng và đặc sắc, mỗi loài đều mang một nét đẹp rất riêng vùng với những hoa văn và họa tiết vô cùng độc đáo.

Tại bài viết này, hãy cùng WANEE tìm hiểu về một số loài lưỡng cư độc đáo tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang nhé!

Hệ lưỡng cư
Hệ lưỡng cư tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang (Nguồn: Sưu tầm)

Tổng quan về hệ lưỡng cư tại KDTSQ Langbiang

Khu dự trữ sinh quyển Langbiang. Tại đây, là ngôi nhà của 83 loài lưỡng cư đã được các nhà nghiên cứu ghi nhận. Trong đó, có 23 loài lưỡng cư đã được mô tả mời cho khoa học từ các phát hiện tại đây. Và loài nhái mới nhất được phát hiện tại đây vào năm 2021 là một giống Micryletta và tên khoa học là Micryletta melanops sp .nov (Poyarkov et al, 2021).

Bài báo khoa học: A new species of Micryletta (Amphibia: Anura: Microhylidae) from the Langbian Plateau in southern Vietnam

Trong 83 loài lưỡng cư, được chia thành 2 bộ đó là Bộ không đuôi (Anura) và Bộ không chân (Gymnophiona). Trong 6 họ của Bộ không đuôi, họ Ếch cây (Rhacophoridae) chiếm số lượng lớn nhất với 19 loài. Tiếp theo là họ Nhái bầu (Microhylidae), họ Ếch nhái (Ranidae), họ Cóc bùn (Megophryidae), họ Ếch nhái thực (Dicroglossidae) chia thành 2 họ phụ là họ phụ (Dicroglossinae) và họ phụ (Occidozyginae). Cuối cùng là họ Cóc (Bufonidae) là họ có số loài ít nhất trong Bộ không đuôi.

lưỡng cư
Loài lưỡng cư thuộc họ Ranidae – Odorrana graminea (Ếch Gra-mi-ne) (Nguồn: Sưu tầm)

Bên cạnh đó, Bộ không chân chỉ có một họ Ếch giun (Ichthyophiidae) với một loài duy nhất là Ếch giun (Ichthyophis nguyenorum).

Mặc dù hầu hết các loài lưỡng cư không phải chịu áp lực bởi săn bắt, khai thác như các nhóm động vật khác, những chúng đang phải đối mặc với tình trạng sinh cảnh bị suy giảm nghiêm trọng về mặt diện tích và chất lượng môi trường. Bên cạnh đó, một số loài lưỡng cư tại đây được liệt kê vào Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List) và Sách đỏ Việt Nam (2007).

Đọc thêm: Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Một số loài lưỡng cư độc đáo tại KDTSQ Langbiang

Ếch cây cựa (Rhacophorus calcaneus) – Vietnam Flying Frog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang
Ếch cây cựa (Nguồn: INaturalist – Zooey026)

Ếch cây cựa thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae) được mô tả lần đầu tiên bởi Smith (1924). Đây là loài ếch cây có kích thước khá lớn (Con cái có thể đạt chiều dài thân (SVL) lên đến 60 mm), đặc trưng bởi nếp da nhọn ở phần gót như cái cựa.

Chúng là loài ếch được báo cáo rằng chỉ sinh sống tại Việt Nam. Hiện nay, ếch cây cựa được xếp hạng Nguy cấp (EN – Endangered) trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019) do tình trạng quần thể và môi trường sống đang liên tục bị suy giảm. Bên cạnh đó, chúng còn bị đe dọa bởi bị khai thác

Cóc mắt trung gian (Megophrys intermedia) – Annam Spadefoot Toad

Loài lưỡng cư thuộc họ  Cóc bùn
Cóc mắt trung gian (Nguồn: Sưu tầm)

Cóc mắt trung gian là loài lưỡng cư thuộc họ Cóc bùn (Megophryidae) được Smith phát hiện sau chuyến đi khảo sát Cao nguyên Langbiang vào năm 1917 – 1918 và được công bố vào năm 1921 (Smith, 2021)

Đây là một trong các loài ếch nhái có kích thước lớn nhất ở khu vực này. Tiếng kêu của Cóc mắt trung gian rất to nhờ kích thước cơ thể lớn và âm vang xa dội ra từ hang đá, nơi chúng trú ẩn.

Cóc mày mắt trắng (Leptobrachium leucops) – White-eyed Spadefoot Toad

Loài lưỡng cư thuộc họ Cóc bùn
Cóc mày mắt trắng (Nguồn: Sưu tầm)

Cóc mày trắng thuộc họ Cóc bùn (Megophryidae) được miêu tả và công bố vào năm 2011 tại tại Hòn Giao và khu vực giáp ranh Khánh Hoà . Cóc mày trắng rất giống Cóc mày Việt Nam (Leptobrachium pullum), ngoại trừ mắt có màu trắng và vùng bụng màu xám đen, có các chấm trắng nhỏ.

Cóc mày trắng và Cóc mày Việt Nam thường sẽ xuất hiện cùng khu vực với nhau (Stuart et al, 2011). Chúng được xếp hạng Sắp nguy cấp (VU-Vunerable) trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019) do khu vực phân bố hẹp.

Cóc mày Việt Nam (Leptobrachium pullum) – Vietnam Spadefoot Toad

Loài lưỡng cư thuộc họ Cóc bùn
Cóc mày Việt Nam (Nguồn: Sưu tầm)

Cóc mày Việt Nam được thuộc họ Cóc bùn (Megophryidae), cũng là loài lưỡng cư được biết đến lần đầu tiên sau chuyến khảo sát năm 1917-1918 của Smith (1921). Sau đó, chúng được tìm tháy ở Kon Tum, Đăk Lăk, Lào Thái Lan và Myanmar (Nguyen et al, 2009).

Chúng có hình thái rất giống với Cóc mắt mày trắng nhưng có thể phân biệt thông qua vòng mắt của Cóc mày Việt Nam sẽ có màu đỏ tươi và bụng của chúng sẽ có màu xám. Bên cạnh đó, có thể phân biệt thông qua tiếng kêu của chúng, tiếng kêu của Cóc mắt mày trắng khác nhau về cấu trúc so với Cóc mày Việt Nam với nhiều âm thanh trong mỗi lời gọi so với chỉ có một âm thanh trong mỗi lời gọi của Cóc mày Việt Nam.

Ếch cây ma cà rồng (Rhacophorus vampyrus) – Vampire Flying Frog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang
Ếch cây ma cà rồng (Nguồn: Sưu tầm)

Ếch cây ma cà rồng là loài lưỡng cư được phát hiện và mô tả bởi Rowley tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang ở những khu vực rừng nguyên sinh với đô cao từ 1470 – 2004 m (Rowley et al, 2010).

Chúng thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae), đây là loài ếch cây có kích thước lớn (Con cái có thể đạt chiều dài thân SVL khoảng 54 mm). Với tên gọi “Ma cà rồng” được đặc theo hình dạng răng đặt biệt ở nòng nọc của loài này nhìn rất giống răng của ma cà rồng.

Hiện tại loài lưỡng cư này chỉ được tìm thấy ở các khu rừng thường xanh thuộc KDTSQ Langbiang và Đăk Nông (Rowley et al, 2010). Hiện đang được xếp hạng Nguy cấp (EN – Endangered) trong danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019).

A new tree frog of the genus Rhacophorus (Anura: Rhacophoridae) from southern Vietnam

Nhái cây Langbiang (Raorchestes gryllus) – Langbian frilled tree Frog

Loài lưỡng cư thuộc họ Ếch cây
Nhái cây Langbiang (Nguồn: Sưu tầm)

Nhái cây Langbiang hay còn được gọi là Nhái cây dế được phát hiện lần đầu tiên tại KDTSQ Langbiang bởi Smith năm 1924.

Chúng là một loài nhái nhỏ, có màu sắc thay đổi rất đa dạng, thường sinh sống trên các cây trong rừng lá rộng thường xanh hoặc rừng hỗn giao giữa rừng lá rộng và rừng lá kim. Chúng thường kêu rất to vào lúc chập choạng tối. Hiện nay, quẩn thể của loài này đang bị suy giảm và đượ xếp hạng Sắp nguy cấp (VU – Vulnerable) trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List).

Ếch Poi-lan (Limnonectes poilani) – Poilane’s Frog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang
Ếch Poi-lan (Nguồn: Sưu tầm)

Ếch Poi-lan thuộc họ Ếch nhái thực (Dicroglossidae) được miêu tả lần đầu tiên bởi Bourret vào năm 1924. Ếch Poi-lan có cơ thể mập mạp và khá lớn, xuất hiện khá phổ biến tại KDTSQ Langbiang. Chúng phân bố chủ yếu ở Việt Nam và Campuchia (Frost, 2019).

Chúng có kích thước trung bình, tương đối lớn, với chiều dài thân từ 3 đến 5 cm. Màu sắc của chúng thường là màu nâu đậm hoặc xám đen với các đốm và vằn màu sáng trên lưng. Bụng của chúng có màu trắng hoặc kem nhạt.

Ếch Poi-lan chủ yếu sống trong các môi trường nước ngọt như ao, hồ, suối và rừng ngập nước. Chúng thích nghi với cuộc sống ở gần nước và thường được tìm thấy trong các khu vực có nhiều cây cối và thảm thực vật.

Nhái cây mí (Feihyla palpebralis) – Annamite Jelly-nest Treefrog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang
Nhái cây mí (Nguồn: vnherps)

Nhái cây mí thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae) được tìm thấy đầu tiên tại đỉnh núi Langbiang ở độ cao 2.000 m so với mực nước biển) bởi nhóm khảo sát của Smith (1924). Bên cạnh đó, chúng cũng được tìm thấy trong các khu rừng lá rộng thường xanh trên khu vực núi cao ở Lâm Đồng.

Nhái cây mí có kích thước trung bình, với chiều dài thân từ 2,5 đến 3,5 cm. Chúng có màu sắc đa dạng, từ màu xanh lá cây đến màu nâu đậm hoặc xám. Một đặc điểm đặc biệt của loài này là có những sợi lông mắt dài ở gần mắt, tạo nên cái tên “Eyelashed Flying Frog”.

Loài này được gọi là Flying Frog vì chúng có khả năng bay từ cây này sang cây khác. Chúng có các đĩa gắn ở ngón tay và ngón chân sau, giúp chúng có thể bám vào các bề mặt và di chuyển trong không gian. Khi nhảy từ cây, chúng có thể mở các đĩa gắn này và tạo ra một lực đẩy để bay qua không trung.

Hiện nay, Nhái cây mí đang chịu áp lực môi trường sinh sống bị suy giảm bởi ô nhiễm và phân mảnh. Chúng được xếp hạng Sắp bị đe doạ (NT-Near Threatened) trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List 2019).

Ếch cây bụng đốm (Kurixalus baliogaster) – Belly-spotted Frog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang
Ếch cây bụng đốm (Nguồn: INaturalist – hungnguyen)

Ếch cây bụng đốm là là lưỡng cư thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae), được mô tả lần đầu tiên vào năm 1999 bởi Inger và cộng sự. Đây là loài ếch cây nhỏ, hiếm gặp, chỉ tìm thấy ở vùng phía nam của dãy Trường Sơn, bao gồm Gia Lai, KDTSQ Langbiang và Lào (Frost, 2019; Inger và cộng sự, 1999).

Ếch cây bụng đốm có kích thước trung bình, với chiều dài thân từ 3 đến 4,5 cm. Chúng có hình dạng mảnh mai và màu sắc đa dạng, từ màu xanh lá cây đến màu nâu đậm hoặc xám. Một đặc điểm đặc biệt của loài này là có bụng có các đốm màu trắng hoặc vàng, tạo nên cái tên “Ếch cây bụng đốm”.

Ếch cây sần trá hình (Theloderma palliatum) – Cloaked Moss Frog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang
Ếch cây sần trá hình (Nguồn: Sưu tầm)

Ếch cây sần trá hình là loài ếch cây thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae) có kích thước nhỏ, thường sinh sống ở các khu rừng thường xanh. Chúng được phát hiện và mô tả ở KDTSQ Langbiang và Vườn Quốc gia Chư Yang Sin (tỉnh Đăk Lăk) (Frost, 2019; Rowley và cộng sự, 2011).

Bài báo khoa học: Two new species of Theloderma (Anura: Rhacophoridae) from Vietnam

Ếch cây sần trá hình có thể dễ dàng phân biệt với những loài cùng chung giống Theloderma thông qua kích thước cơ thể nhỏ (con đực trưởng thành có kích thước từ 26,1-26,4 mm), có những nốt nhỏ trên lưng, không có màng dưới các ngón tay, màu nâu nhạt đến trung bình trên lưng với các đốm nâu đậm đặc trưng và các mặt cạnh màu nâu đậm kéo dài từ mõm đến háng, cuối cùng là mống mắt có hai màu, màu vàng nhạt ở phần trên và màu đỏ đậm ở hai phần dưới (Rowley và cộng sự, 2011).

Loài lưỡng cư này được xếp hạng Nguy cấp (EN-Endangered) trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019) do kích thước quần thể nhỏ và môi trường sống hẹp do bị suy giảm cả về kích thước lẫn chất lượng.

Ếch cây sần Go-đon (Theloderma gordoni) – Gordon’s bug-eyed frog

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang

Ếch cây sần Go-đon là loài ếch thuộc họ Ếch cây (Rhacophoridae) được phát hiện và mô tả vào năm 1962 bởi Taylor. Chúng là lưỡng cư với đặc trưng bởi hình dạng sần sùi giống vỏ cây, nơi chúng trú ẩn.

Chúng được tìm thấy ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam và Trung Quốc (Frost, 2019). Loài ếch có kích thước trung bình đến nhỏ. Da trên mịn với các rãnh tuyến nước lớn và mụn lớn nhỏ không đều, một dải tuyến nước phình to trên cạnh cơ thể, bề mặt dưới hạch; màu nâu hoặc màu cà phê; cạnh cơ thể màu vàng nhạt, bụng có mảng mờ và mạng lưới màu đen xám kết hợp với các hoa văn màu trắng.

Mặc dù dù được xếp hạng “Ít được quan tâm” (LC – Least Concern) trong Danh lục Đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019) nhưng chúng là loài đang bị đe doạ do môi trường sống bị suy giảm nghiêm trọng và bị khái thác làm vật nuôi cảnh.

Ếch giun nguyễn (Ichthyophis nguyenorum) – Nguyen’s caecilian

Khám phá hệ lưỡng cư đa dạng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang

Ếch giun nguyễn là loài thuộc họ Ếch giun (Ichthyophiidae), được phát hiện năm 2012 có chiều dài cơ thể lên đến 300 mm. Chúng thường sống ven các thuỷ vực và đất ngập nước ở những tán rừng thường xanh hoặc thứ sinh. Đây là loài đặc hữu Tây Nguyên gồm Lâm Đồng, Gia Lai, Kom Tum và ở KDTSQ Langbiang, chúng được tìm thấy ở lưu vực sông Srêpôk.

Ếch giun nguyễn có ba vòng (ngấn) lớn ở phần gáy, vòng thứ ba tính từ đầu khá mờ. Đuôi rất ngắn, mút đuôi tù, chiều dài đuôi khoảng 0.3 cm, ngắn hơn bề ngang đuôi. Thân có khoảng 318 vòng (ngấn) gồm cả vòng trên đuôi (4 cái). Vòng ở lưng liền mạch, nhưng ở bụng đôi khi không liền. Có hai sọc vàng đều nhau ở hai bên thân, chạy dọc từ sau mắt tới mút đuôi. Phần lưng có màu nâu đá phiến, dưới bụng màu nâu sáng (Nishikawa và cs. 2012).

Tổng kết

Đây là những thông tin về sự đa dạng hệ lưỡng cư và một số loài đặc sắc tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang mà WANEE Vietnam xin gửi đến bạn. Hy vọng đây sẽ là những thông tin bổ ích dành cho bạn khi đang tìm hiểu về chúng.

Sau bài viết này, WANEE mong rằng các bạn sẽ có hiểu biết sâu hơn về các loài lưỡng cư tại KDTSQ này và từ đó nhận thức về tầm quan trọng của môi trường, các loài sinh vật và vai trò của chúng trong bảo vệ và duy trì sự cân bằng tự nhiên.

Chúc các bạn có những trải nghiệm khám phá thiên nhiên tuyệt vời và trọn vẹn trong những hành trình của mình!

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *