Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang được biết đến là một vùng đất chứa đựng sự đa dạng sinh học rất cao tại vùng Cao nguyên này. Được UNESCO công nhận vào năm 2015, Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang là Khu Dự trữ sinh quyển thứ 9 của Việt Nam và đầu tiên của khu vực Tây Nguyên.

Đọc thêm: LangBiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển

Nơi đây được định hướng là một mô hình kiểu mẫu trong sử dụng bền vững tài nguyên tại địa phương, trong đó có sự kết hợp hài hoà giữa bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, giữ gìn các giá trị văn hoá bản địa với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng địa phương.

Tại bài viết này hãy cũng WANEE tìm hiểu về sự đa dạng sinh học tại Khu Dữ trữ sinh quyển thế giới này nhé!

Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang
Đỉnh Langbiang (Nguồn: Sưu tầm)

Khu Dự trữ sinh quyển là gì?

Theo UNESCO, Khu Dự trữ sinh quyển là những khu vực có các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước có thể thúc đẩy các giải pháp hài hoà giữa bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững. Đó chính là nơi thử nghiệm các biện pháp tiếp cận đa ngành nhằm tìm hiểu và quản lý các biến động và sự tác động qua lại giữa các hệ thống xã hội và hệ sinh thái.

Vì vậy, KDTSQ được xem là các địa điểm hỗ trợ cho ngành khoa học về phát triển bền vững, nhằm trả lời câu hỏi thực tiễn mà chúng ta đang đối mặt: làm thế nào để cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế – xã hội.

Quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học

Đa dạng sinh học của KDTSQ Langbiang hiện nay được quản lý, bảo vệ chủ yếu bởi các đơn vị nhà nước. Ngoài ra, còn có các tổ chức, doang nghiệp ngoài nhà nước được thuê đất, thuê rừng và các hộ gia đình, cộng đồng được giao đất, giao rừng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

STTTên đơn vị
quản lý rừng
Đơn vị
hành chính
Diện tích quản lý có
rừng (ha)
1Ban quản lý Rừng phòng hộ SêrêpôkHuyện Đam Rông39.623
2Ban quản lý Rừng phòng hộ Phi LiêngHuyện Đam Rông7.756
3Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Đơn DươngHuyện Đơn Dương19.056
4Ban quản lý Rừng phòng hộ Đ’ranHuyện Đơn Dương12.460
5Ban quản lý Rừng phòng hộ Tà NăngHuyện Đức Trọng11.924
6Ban quản lý Rừng phòng hộ Ninh GiaHuyện Đức Trọng3.956
7Ban quản lý Rừng phòng hộ Đại NinhHuyện Đức Trọng4.196
8Vườn Quốc gia Bidoup – Núi BàHuyện Lạc Dương66.269
9Ban quản lý RPH đầu nguồn Đa NhimHuyện Lạc Dương37.838
10Ban quản lý Rừng phòng hộ Nam BanHuyện Lâm Hà14.872
11Ban quản lý Rừng phòng hộ Tà NungTP. Đà Lạt4.427
12Ban quản lý Rừng phòng hộ Lâm ViênTP. Đà Lạt8.283
13Ban quản lý khu du lịch hồ Tuyền LâmTP. Đà Lạt852
14Công ty Cổ phần giống lâm nghiệp vùng Tây NguyênTP. Đà Lạt3.232
15Viện KHLN Nam Trung Bộ và Tây NguyênTP. Đà Lạt351

Trong đó, Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà là vũng lõi của KDTSQ Langbiang và hiện được quản lý theo qui chế rừng đặc dụng. Rừng đặc dụng chỉ sử dụng chủ yếu nhằm bảo tồn và phát triển các hệ sinh thái rừng tự nhiên, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh kết hợp du lịch, nghỉ dưỡng.

Đọc thêm: Vườn Quốc Gia Bidoup – Núi Bà hoàn toàn khác 101 Vườn Quốc gia khác tại Việt Nam

Các kiểu sinh cảnh chính tại KDTSQ Langbiang

STTCác kiểu sinh cảnh chính
1Rừng thưa, cây lá kim hơi khô nhiệt đới vùng thấp (rừng thông)
2Rừng kín là rộng thường xanh mưa á nhiệt đới núi thấp (bao gồm cả rừng rêu và “rừng lùn”)
3Rừng kín hỗn giao cây lá rộng – lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
4Rừng kín hỗn giao cây lá rộng – lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp
5Rừng hỗn giao gỗ – tre nứa
6Rừng thưa, cây lá rộng hơi khô nhiệt đới vùng thấp
7Trảng cây to, cây bụi, cỏ cao, khô nhiệt đới vùng thấp
8Đất ngập nước (sông, suối, ao hồ,…)
9Các sinh cảnh khác: rừng hành lang,..

Sự đa dạng của KDTSQ Langbiang

Đa dạng thực vật bậc cao có mạch

KDTSQ Langbiang được xem là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam. Tuy nhiên hầu hết những hiểu biết về đa dạng sinh học nói chung và tài nguyên thực vật nói riêng, là từ các nghiên cứu ở Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà (vùng lõi của KDTSQ).

Tổng hợp những kết quả nghiên cứu trước trước đây đã cho thấy hệ thực vật của KDTSQ Langbiang có ít nhất 1.966 loài thực vật bậc cao có mạch. Nhưng con số chưa dừng lại ở đó, cần phải có thêm những điều tra nghiên cứu để có thể hiểu hơn về số lượng loại thực vật tại đây.

Các họ thực vật có nhiều loài nhất ở KDTSQ Langbiang là Lan (Orchidaceae), Đậu (Leguminosae), Cúc (Compositae), Cà phê (Rubiaceae), Cỏ (Poaceae), Lác (Cyperaceae). Trong đó, họ Lan có đến 271 loài và họ Đỗ quyên có 40 loài. Chỉ riếng 10 học này đã chiếm gần 43% tổng số loài thực vật bậc cao đã được báo cáo tại đây.

Bên cạnh đó, tại đây nơi chứa đựng nhiều loài thực vật bị đe doạ ở qui mô toàn cầu và quốc gia, nằm trong Danh lục đổ thế giới (IUCN Red List) và Sách Đỏ Việt Nam (2007) được phân loại các cấp độ Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN) và Sắp nguy cấp (VU).

Có thể nói đến một số loài cây như:

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Âm lan Evrard

Aphyllorchis evrardii Gagnep

Họ Lan – Orchidaceae

Đây là loài lan đặc hữu của vùng Đông Dương, rất hiếm gặp và thuộc Nhóm IIA của Nghị định số 06/2019/NĐ-CP. Nếu gặp được loài này thì bạn thật may mắn.

Chúng thường chủ yếu mọc ở những khu rừng thường xanh lá rộng ở độ cao 1.200 – 1.700 m

Hình ảnh: Sưu tầm

Thạch tùng răng

Huperzia serrata (Thunb.)

Họ Thạch Tùng – Lycopodiaceae

Là loài cây thuốc có giá trị cao và dễ bị khai thác. Hiện nay chưa có chường trình bảo tồn nào có thể nhân giống thành công. Đây là loài cây cần được quan tâm bảo tồn và phát triển.

Loài thuộc Nhóm IIA trong Gnhij định số 06/2019/NĐ-CP của chính phủ.

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang
Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Bình nước Trung Bộ

Nepenthes annamensis

Họ Nắp bình – Nepenthaceae

Chúng còn được gọi với tến Nắp bình, loài được xếp loại Nguy Cấp (EN) trong sách đỏ Việt Nam (2007).

Bình nước Trung Bộ thường sống trong rừng thông và ngày càng hiếm do ảnh hưởng từ cháy rừng.

Chúng là loài cây ăn thịt có khả năng bẫy bắt và tiêu hoá côn trùng và một số động vật nhỏ (chuột, ếch, nhái,….).

Hình ảnh: Sưu tầm

Pơ mu

Fokienia hodginsii (Dunn)

Họ Tùng – Cupressaceae

Pơ mu là loài cây gỡ có giá trị cao và bị khia thác ở nhiều nơi. Đây là loài quý hiếm cần quan tâm và bảo vệ.

Chúng được xếp hạng Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Sắp nguy cấp (VU) trong Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019).

Theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ, loài thuộc Nhóm IIA. Pơ mu hiện là một trong những loài cây tốt nhất sử dụng trong nghiên cứu về biến đổi khí hậu trong quá khứ.

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Trong các loài thực vật bậc cao tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang ta không thể không nhắc đến cây thông Đà Lạt. Thông Đà Lạt phân bố chính ở Việt Nam và có một vài quần thể ở Lào. Chúng thường xuất hiện khá thuần loại và chiếm ưu thế nhưng một số loài cây lá rộng cũng mọc cùng. Loài cây này không phải loài cây phổ biến và hạn chế khai thác từ thiên nhiên cho mục đích thương mại.

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Thông ba lá

Pinus kesiya

Họ Thông – Pinaceae

Thông ba lá có vai trò quan trọng ở Cao nguyên Langbiang, nhất là Thành phố Đà lạt. Chúng chiếm diện tích lớn trong tự nhiên và tạo ra cảnh quan riêng biệt và mang tính đặc trưng.

Chúng là loài được trồng phổ biến nhưng rừng Thông thì luôn bị đe doạ bởi tình trạng mở rộng đất cho nông nghiệp.

Hình ảnh: Sưu tầm

Thông hai lá dẹt

Pinus krempfii

Họ Thông – Pinaceae

Loài thông duy nhất trên thế giới có lá không phải là hình kim và được xem là hoá thạch sống.

Thông hai lá dẹt là loài đặc hữu của vùng Langbiang và lân cận. Chúng có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu khoa học và có vai trò sinh thái quan trọng trong kiểu rừng hỗ giao lá rộng – lá kim.

Thông hai lá dẹt được xếp hạng Sắp nguy cấp (VU) trong Danh mục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019) và thuộc nhóm IIA trong Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Đa dạng khu hệ côn trùng

KDTSQ Langbiang là một điểm nóng về đa dạng sinh học, không chỉ riêng về các lớp chim, thú, lưỡng cư – bò sát mà con cả côn trùng. Theo như những số liẹu tổng hợp, khu hệ côn trùng KDTQG Kangbiang hiện có hơn 542 loài đã được ghi nhận, trong đó có 196 loài bướm, 32 loài ngài, 90 loài kiến, 7 loài ong, 146 loài bọ cánh cứng và 71 loài côn trùng khác.

Phần lớn các loài đọc đáo ở đây chủ yếu được phát hiện trong các vùng rừng nguyên sinh từ 1.400 m trở lên. Bên cạnh các loài đặc hữu, khu hệ côn trung tại đây còn ghi nhận được ba loài bị doạ được ghi nhận trong Sách đỏ Việt Nam (2007) xếp loại Nguy cấp (VU). Trong đó, có hai loài bướm nằm trong Danh lục IIB của Nghị định số 06.2019/NĐ-CP và Phụ lục II của CITES.

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Ngài đuôi dài Sapa (Ngài hoàng đế Sapa)

Actias chapae bezverkhovi

Họ Ngài hoàng đế – Saturniidae

Phân loài Actias chapae bezverkhovi (Sochivko & Ivshin) 2008 được ghi nhận ở phía Bắc KDTSQ Langbiang, nơi có kiểu rừng hỗn giao cây lá rộng và lá kim nguyen sinh ở độ cao 1.000 – 2.200 m.

Là phân loài đặc hữu hẹp của KDTSQ Langbiang và vùng phụ cận, với cây chủ là các loài thuộc họ Thông. Số lượng cá thể của loài Ngài đuôi dài Sapa phản ánh sự ổn định của quần thể cây chủ, sinh cảnh chuyển tiếp giữa rừng lá rộng và rừng lá kim, cũng như sự cân bằng của loài này với các loài săn mồi (dơi và chim).

Hình ảnh: Sưu tầm

Chuốn chuốn kim bụi xám lớn

Coeliccia mattii

Họ Platycnemididae

Là loài đặc hữu Việt Nam, chỉ mới ghi nhận được ở KDTSQ Langbiang và vùng phụ cận.

Loài chuồn chuồn kim này đặc biệt ưa thích những đầm lầy nhỏ, khu vực ẩm ướt có nhiều thảm mục và thực vật thấp che phủ, thường được tìm thấy ở các con suối cạn chảy len lỏi trong các khu rừng ít bị tác động, ở độ cao 500 – 1.500 m thuộc KDTSQ Langbiang và vùng phụ cận (Đăk Nông, Bảo Lộc).

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang
Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Chuồn chuồn đốm sọc cam

Rhinocypha seducta

Họ Chuồn chuồn cánh màu – Chlorocyphidae

Đây là loài đặc hữu, chỉ phổ biến ở Tây Nguyên. Chúng rất nhạy cảm với nhiệt độ và độ ẩm của môi trường nên dễ bị tổn thương khi sinh cảnh sống bị đe doạ.

Chúng thưởng được bắt gặp ở những con suối vừa và hẹp, dòng nước chảy chậm trong các khu rừng thường xanh nguyên sinh hoặc ít bị tác động ở trên vùng núi cao trên 1.200 m thuộc Cao nguyên Đà Lạt và vùng lân cận.

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng khu hệ lưỡng cư

KDTSQ Langbiang là ngôi nhà của nhiều loài lưỡng cư và chúng đã được nghiên cứu ở đây từ hơn một thế kỷ qua. Cho đến nay, đã ghi nhận được tổng cộng 83 loài lương cư tại KDTSQ Langbiang và con số này có thể con tăng nếu có thêm nhiều nghiên cứu về lưỡng cư tại đây.

Tại đây, có 22 loài được mô tả mới cho khoa học từ các phát hiện tại đây và 5 loài có tên gọi (tên thông thường hoặc tên khoa học) gắn liền với địa danh trong KDTSQ Langbiang. Hiện tại, có 8 loài lưỡng cư được đưa vào Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019) ở các cấp độ đe doạ khác nhau: 5 loài ở mức Nguy cấp (EN), 2 loài Sắp nguy cấp (VU) và 1 loài Sắp bị đe doạ (NT).

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Cóc mày mắt trắng

Leptobrachium leucops

Cóc mày mắt trắng rất giống Cóc mày Việt Nam, ngoại trừ mắt có màu trắng và vùng bụng màu xám đen, có các chấm trắng nhỏ.

Loài này được tìm thấy tại Hòn Giao và khu vực giáp ranh Khánh Hoà và được mô tả mới cho khoa học vào năm 2011.

Gần một thế kỷ sau khi Cóc mày Việt Nam được phát hiện. Hai loài này thường xuất hiện chung khu vực (Stuart et al, 2011).

Loài này hiện được xếp hạng Sắp nguy cấp (VU) trong danh lục đỏ Thế giới IUCN – 2019) do khu vực phân bố hẹp.

Hình ảnh: Sưu tầm

Ếch cây ma cà rồng

Rhacophorus vampyrus

Đây là loài ếch cây có kích thước khá lớn được phát hiện tại KDTSQ Langbiang (Rowley et al, 2010).

Với tên gọi “Ma cà rồng” được đặt theo hình dạng răng đặc biệt ở nòng nọc của loài này (giống với răng của ma cà rồng).

Chúng chỉ phân bố chủ yếu ở các khu rừng lá rộng thường xanh thuộc KDTSQ Langbiang và Đăk Nông (Rowley et al, 2010 & 2012).

Được xếp hạng Nguy cấp (EN) trong Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019)

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Đa dạng khu hệ Bò sát

Khu hệ bò sát tại KDTSQ Langbiang so với các nhóm lưỡng cư, chim, thú và côn trùng. Khu hệ bò sát hiện tại có đến 87 loài thuộc Bộ có vảy (Squamata – Phân bộ rắn và thằn lằn) và 4 loài thuộc Bộ rùa (Testudinata).

Nhờ sự đa dạng về các kiểu sinh cảnh và đai độ cao khác nhau trong KDTSQ Langbiang mà khu hệ bò sát có những đại diện của cả vùng núi thấp lẫn vùng núi cao. Khu hệ bò sát tại đây có đến 14 loài quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam (2007) và 6 loài trong Danh mục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019).

Phân bộ rắn

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Rắn mai gầm lát

Calamaria pavimentata

Là một đại diện của giống rắn mai gầm, rắn mai gầm lát có kích thước nhỏ với chiều dài tối đa dài khoảng 490 mm.

Loài sống và kiếm ăn chủ yếu trên mặt đất. Tại đây, loài này được tìm thấy trong sinh cảnh chuyển tiếp giữa rừng lá rộng thường xanh và rừng thông, trong khu vực trạm Đưng lar Jieng của VQG Bidoup – Núi Bà

Hình ảnh: Sưu tầm

Rắn lục Von-gen

Trimeresurus vogeli

Loài rắn lục này cũng mang đặc trưng cho sinh cảnh rừng núi cao, thích sống ven các con suối nhỏ trong rừng lá rộng thường xanh.

Thức ăn chính là các loài ếch nhái, động vật nhỏ khác. Trong khu vực Cao nguyên Langbiang, loài này được ghi nhận ven suối thuộc lưu vực sông Đa Nhim.

Hình ảnh: Sưu tầm

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Phân bộ Thằn Lằn

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Ô rô vảy

Acanthosaura lepidogaster

Loài này đại diện cho giống Acanthosaura có phân bố rộng ở Việt Nam và chỉ được tìm thấy trong sinh cảnh rừng lá rộng thường xanh.

Loài này hoạt động chủ yếu vào ban ngày và ngủ trên cây vào ban đêm.

Trong KDTSQ Langbiang, Ô rô vảy được tìm thấy trong sinh cảnh rừng thường xanh, ở độ cao khoảng 1.500 m so với mực nước biển.

Hình ảnh: Sưu tầm

Thằn lằn ngón Bidoup

Cyrtodactylus bidoupimontis

Thằn lằn ngón Bidoup được mô tả tại Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà vào nằm 2012, đây là loài đặc trưng cho sinh thái vùng Cao nguyên Langbiang.

Được tìm thấy chủ yếu trong sinh cảnh rừng lá rộng thường xanh, độ cao từ 1.550 đến 1.920 m so với mực nước biển.

Hiện tại, chúng là loài đặc hữu của Việt Nam và chỉ mới được ghi nhận tại Cao nguyên Langbiang.

Hình ảnh: bangtran (INaturalist)

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Đa dạng khu hệ chim

Nằm trong vùng đặc hữu Cao nguyên Đà Lạt. KDTSQ Langbiang có vùng lõi Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà là VQG duy nhất ở Việt Nam có ba vùng chim quan trọng tầm quốc gia và quốc tế là Cổng Trời, Bidoup và Núi Bà.

Nơi đây, cũng là một trong những trung tâm đa dạng chim của Việt Nam với khoảng gần 418 loài chim đã được ghi nhận (Avibase – The World Bird Database), trong đó bao gồm nhiều loài và phân loài đặc hữu, quý hiếm và bị đe doạ trên quy mô quốc gia và toàn cầu.

Đọc thêm: 5 loài chim đặc hữu của Cao Nguyên Lâm Viên – tỉnh Lâm Đồng

Với yếu tố đặc hữu, quý hiếm, từ những báo cáo nghiên cứu trước đây cho thấy có ít nhất 32 loài chim nằm trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ Thế Giới (IUCN Red List – 2019), Nghị định số 160/2013/NĐ-CP và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ.

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Khướu hông đỏ

Cutia legalleni

Là loài đặc hữu Đông Dương và sống theo bầy nhỏ, đôi khi bắt gặp kiếm ăn theo bầy với các loài chim khác.

Chúng thường kiếm ăn chủ yếu ở tâng giữa và tầng cao của tán rừng. Thức ăn chủ yếu là côn trùng, hạt và quả.

Sống chủ yếu ở rừng lá rộng thường xanh và rừng hỗn giao lá rộng – lá kim. Phân bố độ cao 1.200 – 2.100 m.

Hình ảnh: WANEE

Khướu ngực hồng

Garrulax annamensis

Khướu ngực hồng là loài đặc hữu của Việt Nam, có đời sống theo cặp.

Thường kiếm ăn chủ yếu ở tầng thấp tán rừng và trên mặt đất. Chúng rất nhút nhát, ẩn nấp trong cây bụi, có tính bảo vệ lãnh thổ cao.

Sống chủ yếu ở rừng thường xanh và phân bố ở độ cao 900 – 1.500 m.

Hình ảnh: WANEE

Đa dạng sinh học Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang

Đa dạng khu hệ thú

KDTSQ Langbiang được đánh giá là một trong những khu vực có tầm quan trọng đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam, trong đó không thể không nói đến các loài thú.

Kết quả nghiên cứu và điều tra thông kê về khu hệ thú tại KDTSQ Langbiang đã thống kê được 98 loài thú thuộc 29 họ và 10 bộ. Trong đó, có 35 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 26 loài có tên trong Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019), và có 18 loài có tên trong Nghị định số 160/2013/NĐ-CP; 32 loài có tên trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP.

Trong khu hệ thú, KDTSQ Langbiang là nơi sinh sống của các loài linh trưởng quý hiếm và đặc hữu Đông Dương có thể kể đến như Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes), Vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae). Bên cạnh đó, còn có các loài linh trưởng khác đó là Cu li nhỏ (Xanthonycticebus pygmaeus), Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides),…

Đọc thêm: 24 loài Linh trưởng Việt Nam

Ngoài ra, còn là nơi sinh sống của một số loài thú ăn thịt như Cầy vòi hương (Paradoxurus hermaphroditus), Cầy vằn bắc (Chrotogale owstoni),… và một số loài thú ăn thịt lớn khác Báo gấm (Neofelis nebulosa), Gấu ngựa (Ursus thibetanus), Gấu chó (Helarctos malayanus),….

KDTSQ Langbiang

Cu li nhỏ

Xanthonycticebus pygmaeus

Cu li nhỏ là loài linh trưởng nhỏ nhất Việt Nam và đang trong tình trạng Sắp nguy cấp (VU) theo Sách đỏ Việt Nam (2007) và Nguy cấp (EN) trong Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2021).

Thường sống đơn độc, lặng lẽ. Thường kiếm ăn vào ban đêm ở rừng thưa, bụi rậm ven rừng và nương rẫy.

Thức ăn chủ yếu là quả, đọt cây, côn trùng, trứng chim hoặc chim non. Ban ngày, chúng cuộn tròn ngủ trên cây.

Hình ảnh: Paul Tang

Đọc thêm: 3 loài Cu li tại Việt Nam – Loài linh trưởng dễ thương và quý hiếm

Cầy vằn bắc

Chrotogale owstoni

Cầy vằn bắc là loài thú quí, hiếm, đang ở tình trạng Cực Kỳ nguy cấp (CR) theo Danh lục đỏ Thế giới (IUCN Red List – 2019).

Trước đây loài này rất phổ biến ở miền Bắc và miền Trung. Tuy nhiên, hiện nay do bị săn bắt, buôn bán quá mức và sinh cảnh bị suy giảm nên số lượng quần thế bị suy giảm nghiêm trọng.

KDTSQ Langbiang

Tổng kết

Đây là những thông tin về sự đa dạng sinh học về Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang mà WANEE Vietnam xin trân trọng gửi đến bạn. Hy vọng đây sẽ là những thông tin hữu ích dành cho bạn khi bạn đang tìm hiểu về vùng đất Cao nguyên này.

Qua bài viêt này, WANEE mong muốn chúng ta có thể nhận thức được sự đa dạng về các loài động thực vật mà thiên nhiên đã ban tặng cho Việt Nam chúng ta. Từ đó, chúng ta có thể nhận thức và có trách nhiệm hơn với môi trường tự nhiên để góp phần giữ gìn sự đa dạng sinh học này cho thế hệ mai sau.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

wanee_outdoor_shop