Việt Nam là một quốc gia có tới 24 loài linh trưởng nhưng hầu như hơn 90% trong số chúng đang đối mặt với nguy cơ bị tuyệt chủng. Trong số các loài Linh trưởng Việt Nam, hiện có 10 loài chỉ còn số lượng cá thể cực ít và bị đe dọa với nguy cơ bị “đăng xuất” hoàn toàn khỏi Thế Giới. Trong số 24 loài này gần một nửa là các loài đặc hữu Việt Nam nhưng có tới 20 loài bị đe dọa với nguy cơ tuyệt chủng cực cao.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Các loài linh trưởng Việt Nam hầu như sống trên cây, chúng sống thành những gia đình như con người đồng thời chúng cũng là những “người anh em” của loài người (Homo sapiens) còn sinh sống trong những khu rừng Việt Nam. Chúng bao gồm: cu li sống về đêm, khỉ “ăn chay”, khỉ ăn tạp sống chủ yếu trên mặt đất và loài voọc ăn lá sống trên cây.

Hầu như những “người anh em” đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng đều do tác động chủ yếu đến từ con người. Loài người không ngừng sinh sôi nên rừng đã bị tàn phá rất nhiều đáp ứng các nhu cầu về chỗ ở, lương thực, thực phẩm… Kết quả là địa bàn sinh sống của nhiều loài bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực.

Nhiều loài linh trưởng ngày nay chỉ còn xuất hiện thành những nhóm nhỏ. Trong đó có loài Vượn Cao Vít Nomascus nasutus, trước đây phân bố khắp miền Bắc nhưng hiện chỉ còn xuất hiện tại 1 điểm duy nhất. Ngoài ra, các hoạt động săn bắt lấy thịt hay làm thuốc dân gian, làm thú cảnh hay thậm chí là dùng để ngâm rượu là các nguyên nhân có thể sánh ngang với việc phá rừng gây mất sinh cảnh ảnh hưởng đến số lượng loài này.

Hiện trạng bảo tồn

Loài cực kỳ nguy cấp Critically Endangered Species (CR)

Loài cực kỳ nguy cấp hay loài rất nguy cấp là các loài đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng ở mức cực kỳ nguy cấp (IUCN). Chúng đứng đầu trong Danh lục đỏ của IUCN về các loài bị đe dọa. Năm 2016, 7 loài linh trưởng VIệt Nam được xếp vào danh lục này trong đó có 4 loài là đặc hữu cho Việt Nam. Vượn đen phía đông ban đầu cũng được xếp là loài đặc hữu của Việt Nam nhưng khu vực phân bố có cả lãnh thổ của Trung Quốc nên đã được loại khỏi danh sách này.

Loài nguy cấp Endangered Species (EN)

Loài nguy cấp hay loài có nguy cơ tuyệt chủng là loài đang phải đối diện với nguy cơ tuyệt chủng cao ngoài tự nhiên (IUCN). Chúng đứng thứ hai trong danh lục đỏ của IUCN về các loài bị đe dọa. Năm 2016, Việt Nam có 10 loài linh trưởng Việt Nam được xếp vào danh lục này.

Loài sẽ nguy cấp Vulnarable Species (VU)

Loài sẽ nguy cấp hay loài dễ bị tổn thương là loài phải đối mặt với khả năng tuyệt chủng ngoài tự nhiên (IUCN). Chúng đứng thứ ba trong danh lục đỏ của IUCN về các loài bị đe dọa. Năm 2016, có 4 loài linh trưởng Việt Nam nằm trong danh lục này.

Loài sắp bị đe dọa Near Threatened Species (NT)

Loài sắp bị đe doạ hay loài sắp nguy cấp là loài có thể bị đe dọa tuyệt chủng trong tương lai gần nhưng hiện tại thì chưa đến mức ở tình trạng bị đe dọa (IUCN). Có 1 loài trong số 24 loài linh trưởng Việt Nam được xếp vào danh lục này.

Loài ít lo ngại Least Concern Species (LC)

Loài ít lo ngại hay loài ít được quan tâm là loài chưa đến mức phải xếp vào danh lục nào được liệt kê ở trên (IUCN). Có 2 loài của Việt Nam được liệt kê trong số 24 loài linh trưởng Việt Nam được nêu trên.

Danh lục 24 loài linh trưởng Việt Nam và hiện trạng bảo tồn của chúng theo IUCN 2016

STTTên loàiHiện trạngĐặc hữu
Việt nam
1Chà vá chân xám Pygathrix cinereaCR
2Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculusCR
3Voọc cát bà Trachypithecus poliocephalusCR
4Vượn đen tuyền Nomascus concolorCR
5Vượn đen má trắng Nomascus leucogenysCR
6Voọc mông trắng Trachypithecus delacouriCR
7Vượn cao vít Nomascus nasutusCR
8Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeusEN
9Chà vá chân đen Pygathrix nigripesEN
10Voọc bạc đông dương Trachypithecus germainiEN
11Voọc bạc annam Trachypithecus margaritaEN
12Voọc xám Trachypithecus crepusculusEN
13Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisiEN
14Voọc hà tĩnh Trachypithecus hatinhensisEN
15Vượn đen má hung trung bộ Nomascus annamensisEN
16Vượn đen má hung Nomascus sikiEN
17Vượn đen má vàng Nomascus gabriellaeEN
18Cu li lớn Nycticebus bengalensisVU
19Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeusVU
20Khỉ đuôi lợn Macaca leoninaVU
21Khỉ mặt đỏ Macaca arctoidesVU
22Khỉ mốc Macaca assamensisNT
23Khỉ vàng Macaca mulattaLC
24Khỉ đuôi dài Macaca fascicularisLC

Thông tin chi tiết 24 loài linh trưởng Việt Nam

Chà vá chân xám/Grey-shanked Douc (Pygathrix cinerea)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Pygathrix
Loài (species): Pygathrix cinerea

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chà vá chân xám chỉ mới được phát hiện và công bố vào năm 1997 sau khi tịch thu từ những người buôn bán động vật trái phép năm 1995. Chúng là loài hiếm nhất trong ba loài voọc và cũng bị hạn chế sinh cảnh sống nhất. Nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới (Le Van Dung).

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Nó là loài đặc hữu của Việt Nam từ Quảng Nam đến Bình Định.

Chúng được tìm thấy trong rừng nhiệt đới trên đồi núi ở độ cao từ 200 – 1500 mét, có khả năng thích ứng tương đối khi rừng bị tác động, nhưng nạn săn bắn làm cho các quần thể của loài này ở Việt Nam bị đe dọa ở mức nguy cấp.

Những quần thể lớn đang sinh sống ở Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, các khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, xã Dak Pring và Kon Chư Răng.

Hiện nay, Chà vá chân xám bị suy giảm nghiêm trọng theo số liệu nghiên cứu năm 2016 còn dưới 1.500 cá thể loài được phát hiện trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Mất đi nơi ở do quá trình phá rừng của con người vào những mục đích như tái định cư, chuyển vùng canh tác nương rẫy và việc săn bắt của con người là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự đe dọa nghiêm trọng đối với loài này.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Chà vá chân xám có thân lông xám với vết lông trắng ở mông. Lông vai và tay màu đen. Lông trên đầu màu xám nhưng có một vành đen phía trên trán. Chúng có vành râu quai nón màu trắng trong khi phía cổ thì lông màu đà, hung đỏ. Mắt chúng hơi xếch. Tay chà vá dài hơn chân. Đuôi dài, sắc lông trắng.

Con đực hơi lớn hơn con cái và nặng trung bình khoảng 10.9 kg. Con cái nặng khoảng 8.2 kg. Chà vá chân xám, như tên đặt cho chúng, có cặp chân xám. Hai cánh tay cũng xám. Chúng có họ rất gần với chà vá chân đỏ trong khi là họ hàng xa với Chà vá chân đen.

Chà vá chân xám hoạt động vào ban ngày và chủ yếu sống trên cây. Chúng di chuyển qua các cành cây bằng cách nhảy và chuyền cành. Trước đây, người ta thường tìm thấy chúng trong nhóm lớn gồm 50 cá thể nhưng số lượng này giờ đã giảm đáng kể xuống từ 4 đến 15 con. Con đực thường là giới thống trị và có vai trò lãnh đạo (theo Covert và cộng sự 2008).

Chà vá chân xám giao tiếp với nhau bằng cách động chạm, qua hình ảnh và nghe tiếng. Gầm rú thường là dấu hiệu cho thấy sự tức giận. Nó có thể là dấu hiệu hăm dọa một cá thể nào đó. Tiếng líu lo nhẹ nhàng thường là dấu hiệu của sự vâng phục.

Chà vá chân xám thường chải chuốt lông để loại bỏ ký sinh trùng và củng cố mối liên kết giữa các thành viên trong đàn. Hoạt động này thường được thực hiện trước khi nghỉ tối. Các thành viên cũng có thể cho thấy thái độ hung hăng bằng cách đánh nhau, đập, kéo và vồ lẫn nhau (theo Covert và cộng sự 2008).

Giao tiếp bằng hình ảnh bao gồm các biểu hiện khuôn mặt và những tư thế khác nhau. Biểu hiện khuôn mặt có thể là nhăn nhó, cho thấy thái độ tuân phục, thái độ đùa giỡn khi chơi cùng các thành viên khác và nhìn chằm chằm thể hiện sự tò mò hay tức giận. Biểu hiện khuôn mặt cũng được thể hiện rõ trong giai đoạn chọn bạn tình. Con đực sẽ nhìn về phía con cái để cho thấy rằng chúng sẵn sàng giao phối.

Thức ăn của chúng gần như là lá cây, nhưng thỉnh thoảng cũng ăn thêm hạt, trái cây và hoa. Chúng thích lá non và hoa quả.

Voọc mũi hếch/Tonkin snub-nosed Monkey (Rhinopithecus avunculus)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Phân họ (subfamilia): Colobinae
Chi (genus): Rhinopithecus
Loài (species): Rhinopithecus avunculus

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Voọc mũi hếch Rhinopithecus avunculus là đại diện ghi nhận ở Việt Nam. Bốn loài khác cùng chi được tìm thấy ở Trung Quốc và Miến Điện. Loài này nằm trong danh sách 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Trước đây loài này phân bố rộng rãi ở phía đông sông Hồng nhưng nạn săn bắn và phá rừng đã khiến phạm vi hoạt động và số lượng của chúng sụt giảm nghiêm trọng. Đến nay ghi nhận chỉ ở hai địa điểm trong tỉnh Hà Giang có hơn 250 cá thể sống sót trong rừng nguyên sinh, trên núi đá vôi dốc đứng.

Hà Giang có thể là nơi sinh sống của những quần thể Voọc mũi hếch cuối cùng trên thế giới (Nguyen Van Truong)

Hiện nay, chỉ còn khoảng 250 cá thể Voọc mũi hếch còn lại trên toàn Việt Nam. Là một loài đặc hữu của Việt Nam nên cũng có thể nói 250 cá thể này là số cá thể cuối cùng của loài trên toàn thế giới. Tất cả những gì có thể ngăn chặn sự tuyệt chủng của loài này là những nỗ lực không ngừng nhằm bảo tồn hai quần thể lớn nhất còn lại.

Các quần thể nhỏ hơn có thể sinh sống ở nơi khác nhưng không bảo đảm có thể tồn tại lâu dài. Điều đáng buồn hơn là loài này ít có khả năng còn những quần thể khác ngoài tự nhiên có thể được phát hiện.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Voọc mũi hếch mặt nhiều màu sắc, mũi hếch, miệng có đôi môi dày và bộ lông rậm rạp (Le Khac Quyet). Lông ở phần lưng màu nâu đen nhưng phía ngực và bụng lại có màu trắng kem cùng một mảng lông màu cam xung quanh cổ, đặc biệt là ở con đực.

Chúng không có mào lông trên đỉnh đầu. Chiều dài cơ thể của loài từ 51 đến 65 cm (20 đến 26 in) cộng thêm chiều dài đuôi từ 66 đến 92 cm (26 đến 36 in). Con cái và con đực có cân nặng trung bình lần lượt khoảng 8 kg (18 lb) và 14 kg (31 lb). Những cá thể đang trưởng thành có phần lông màu xám thay cho màu đen và cũng không có vùng lông cam quanh cổ.

Voọc mũi hếch là loài ăn đêm với thức ăn bao gồm đa dạng các loại lá, quả, hoa và hạt. Chúng sinh sống hoàn toàn trên cây rất ít khi xuống đất, di chuyển thành những đàn nhỏ. Một đàn gồm một con đực và 10 – 15 con cái, rất hiếm khi hơn 20 con cái trong một đàn (Le Khac Quyet). Chúng dành khoảng 30% thời gian trong ngày để nghỉ ngơi, thời gian còn lại chúng dành cho việc quan sát và kiếm ăn.

Voọc cát bà/Cat ba langur (Trachypithecus poliocephalus)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus poliocephalus

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Voọc cát bà rất hiếm trên thế giới và chỉ tồn tại ở quần đảo Cát Bà trong vịnh Hạ Long. Trước đây được coi là phổ biến nhưng loài này đã chết dần và toàn cầu hiện nay chỉ còn khoảng 70 con, chúng cũng được liệt vào danh sách 25 loài linh trưởng có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Khi còn rừng phủ đầy, đảo Cát Bà có thể từng là nơi sinh sống cho quần thể Voọc lên tới 2.700 con. Trong những năm 1960, loài này bắt đầu bị tiêu diệt dần vì nạn săn bắt để lấy thịt và làm thuốc dân gian. Người ta thường dùng cách bẫy cả một đàn voọc khi chúng ngủ đêm trong hang động.

Chúng sống trong rừng và những bụi cây bao phủ các núi đá vôi, một con voọc đực dẫn cả đàn, dừng lại trên điểm cao để kiểm tra toàn bộ khu vực trước khi đàn di chuyển tiếp.

Vịnh Hạ Long được UNESCO bình chọn là Di sản Thế giới không giúp gì để bảo tồn loài voọc này mà ngược lại, nó dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của thị trấn Cát Bà. Sự xáo trộn mất kiểm soát từ du lịch càng làm tăng thêm sự đe dọa cho loài này (Nguyen Van Truong).

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Báo cáo ghi nhận nhiều đàn đã di chuyển giữa các đảo khi thủy triều thấp. Việc các đàn nhỏ bị cô lập là mối đe dọa sự tồn tại lâu dài của chúng. Con đầu đàn gồm một con đực trưởng thành và vài con cái. Việc thụ thai xảy ra hằng năm. Khi một con đực khác nắm quyền thống lĩnh đàn chúng sẽ giết các con sơ sinh để con cái sớm động đực.

Voọc mông trắng/Delacour’s Langur (Trachypithecus delacouri)

Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primates
Họ (familia) Cercopithecidae
Chi (genus) Trachypithecus
Loài (species) Trachypithecus delacouri

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Voọc mông trắng có vùng phân bố hẹp, chỉ ở khu vực miền Bắc Việt Nam. Ước tính còn khoảng 200 cá thể, trong đó 100 cá thể tập trung ở một khu vực, các khu vực khác bị chia cắt và có số lượng quần thể nhỏ. Đây là một thành viên khác của danh lục 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Sống trong rừng thường xanh và bụi rậm. Phân bố ở độ cao từ 500 – 1.000 m trên núi đá vôi, nơi nguồn nước hạn chế sự phân bố của chúng. Quần thể lớn nhất được ghi nhận gồm 100 cá thể tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Vân Long, tỉnh Ninh Bình.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Trọng lượng cơ thể 8,1 – 9 kg; chiều dài đầu và thân 0,46 – 0,665 m. Trên đỉnh đầu có mào lông màu đen, có vệt lông trắng khá rộng hai bên má kéo dài lên phía trên vành tai. Chân có bộ lông màu đen. Vùng mông có lông màu trắng kéo dài tới tận gốc đuôi và đùi; chân tay dài. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi màu đen. Thức ăn chủ yếu là chồi cây, lá và quả cây.

Các quần thể còn lại hầu hết là nhỏ, ít hơn 20 con. Một ngoại lệ đáng chú ý là một quần thể gồm 30 đến 40 con vẫn còn sinh sống ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hoá và một quần thể khác, gần đây mới được phát hiện tại một địa điểm chưa công bố.

Một đàn gồm một con đực, vài con cái trưởng thành và bầy con của chúng.

Vượn đen tuyền/Western Black Crested Gibbon (Nomascus concolor)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus concolor

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài vượn này chủ yếu phân bố ở phía Bắc Việt Nam, Lào và Vân Nam, Trung Quốc. Vượn đen tuyền Tây Bắc là một loài ngày càng có nguy cơ tuyệt chủng cao. Trên thế giới hiện còn ít hơn 2.000 cá thể và có 60 cá thể ở Việt Nam.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này sống ở rừng nhiệt đới cao từ 500 đến 2.900 m. Tuy nhiên, phân bố hiện tại của chúng bị xé lẻ do nạn phá rừng và săn bắt. Trước đây, loài này còn xuất hiện ở độ cao dưới 500m nhưng hiện nay, rừng ở độ cao thấp hơn đa số đã biến mất trên toàn bộ lãnh thổ của chúng.

Ở Việt Nam loài này chỉ sống trong hai khu vực bảo tồn, với khoảng 20 đàn ở Mù Căng Chải, Khu bảo tồn sinh thái ở Yên Bái và khu rừng liền kề ở Mường La tỉnh Sơn La, và 2 đến 5 đàn ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Hoàng Liên-Văn Bàn tại Lào Cai.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc cho thấy loài này sống theo đàn với một con đực duy nhất và hai con cái. Tên thường gọi của chúng là do chùm lông trên trán (Fan Peng Fei).

Chiều dài từ đầu đến cuối thân là 45 – 64 cm và cân nặng 5,7 kg.

Chế độ ăn uống theo mùa vì chúng sống ở nơi cao và có vĩ độ cao. Thức ăn của chúng bao gồm gần 50% lá, trái cây 25%, 19% quả sung và 9% hoa (Zhao Chao | Cloud Mountain Conservation).

Vượn cao vít/Eastern Black Crested Gibbon (Nomascus nasutus)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primates
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus nasutus

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Hiện giờ chỉ giới hạn tại một địa phương duy nhất ở biên giới Trung-Việt, nhưng trước đó, loài này đã từng sinh sống từ sông Hồng qua phía Đông Nam Trung Quốc. Nếu những nỗ lực bảo tồn đang tiến hành bị thất bại thì loài này sẽ tuyệt chủng.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Toàn thế giới có khoảng 130 con, chia làm 18 đàn trong đó 14 đàn ở Việt Nam. Kết quả là Khu Bảo tồn Vượn Cao Vít được thành lập vào năm 2007 và kế bên là Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bangliang ở Trung Quốc ra đời hai năm sau, năm 2009. Cộng cả hai khu vực này chỉ rộng khoảng 2.000 ha.

Khảo sát không tìm thấy ở nơi nào khác, có vẻ như nạn phá rừng và săn bắn đã làm nó bị tuyệt chủng đến 99% so với trước đây ở miền Bắc Việt Nam (Le Khac Quyet).

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Mặc dù không còn hiện tượng săn bắn từ năm 2003 khi bắt đầu lệnh cấm, cư dân địa phương tiếp tục thu hẹp dần khu vực này để khai thác lâm sản và khai thác gỗ xây dựng, làm củi.

Con đực chủ yếu là màu đen, con cái có viền lông trắng lớn bao quanh mặt và một đường sọc đen trên trán. Chúng ăn nhiều trái cây, nhưng báo cáo ghi nhận chúng cũng ăn động vật không xương và thằn lằn nhỏ (Le Khac Quyet).

Con cái sinh nở vào những tháng lạnh nhất, từ tháng mười đến tháng hai. Trước đây chúng được tìm thấy trong rừng nhiệt đới, kể cả núi đá vôi từ 50 đến gần 1.000 m. Những quần thể nhỏ rất dễ bị suy thoái do cận huyết, bệnh tật và thời tiết khắc nghiệt. Khó có thể làm được gì nhiều để giảm thiểu những tác động tới chúng (Zhao Chao | Cloud Mountain Conservation).

Vượn đen má trắng/Northern White-cheeked Crested Gibbon (Nomascus leucogenys)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus leucogenys

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Vượn đen má trắng, loài vượn có nguy cơ tuyệt chủng cao này được tìm thấy ở phía nam Vân Nam, Trung Quốc, Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam. Mặc dù chúng sinh sống ở tám khu bảo tồn của Việt Nam, các biện pháp hiện nay vẫn không đủ để ngăn chặn đà suy vong của chúng và nguy cơ loài này có khả năng tuyệt chủng là rất cao.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này hiện tồn tại chủ yếu như những quần thể nhỏ và cô lập. Mặc dù sống ở tám khu bảo tồn tại Việt Nam, các quần thể này quá nhỏ để có thể tồn tại được và dự báo có nguy cơ tuyệt chủng. Quần thể lớn nhất được cho là ở Vườn Quốc gia Pù Mát ước tính khoảng 130 đàn.

Chúng sinh sống trong các khu rừng thường xanh, bán thường xanh từ độ cao 200 đến 1.650 m, hậu quả của việc phá rừng các quần thể còn lại được tìm thấy ở độ cao trên 700 m, như Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Giống như các thành viên khác trong chi, cả con đực và con cái của loài đều có cánh tay dài bất thường ngay cả đối với vượn, với cánh tay dài gấp 1,2 đến 1,4 lần chân. Chúng cũng cơ bắp hơn, có đùi và vai nặng hơn cho thấy một sức mạnh cơ thể lớn hơn. Con trưởng thành thích dùng tay khi đu qua các cành cây, với tỉ lệ thuận tay trái hoặc tay phải của các cá thể là tương đương nhau.

Loài này gần giống vượn đen siki, nhưng có lông trên cơ thể hơi dài hơn và phát ra âm thanh hơi khác một chút. Cũng có thể phân biệt con đực của hai loài này thông qua hình dạng của các mảng trắng trên má của chúng; ở loài vượn đen má trắng, chúng chạm đến viền trên của tai và không chạm vào khóe miệng, trong khi ở vượn đen siki, chúng chỉ chạm đến nửa tai và hoàn toàn bao quanh môi.

Giống như các loài vượn khác, loài này sống thành đàn một vợ một chồng. Ở Việt Nam, các đàn thường gồm 3-5 con. Lông má trắng của các loài này chỉ ở hai bên khuôn mặt, còn cằm màu khác. Loài này có thể ăn ít trái cây hơn các loài vượn khác vì chúng phân bố về phía Bắc hơn (Fan Peng Fei).

Con cái có thể được phân biệt bởi màu lông phong phú hơn và chỏm lông đầu màu đen (Nicolas Cornet).

Vườn Quốc gia Pù Mát nuôi dưỡng 455 cá thể và là khu vực ưu tiên nhất để bảo tồn loài này ở Việt Nam. Địa thế xa xôi, gần biên giới Lào, khá thuận lợi để bảo vệ, tuy nhiên việc phát triển đường bộ qua các vùng sinh sống của loài vượn đã đe dọa sự sống còn của chúng.

Chà vá chân nâu/Red-shanked Douc (Pygathrix nemaeus)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primates
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Pygathrix
Loài (species): Pygathrix nemaeus

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Là loài nhiều màu sắc nhất trong các loài voọc, Chà vá chân nâu có thể gọi là loài linh trưởng đẹp nhất thế giới. Được tìm thấy chủ yếu ở Lào và Việt Nam, nhưng đôi khi cũng xuất hiện tại Campuchia, loài này có địa bàn sinh sống rộng lớn. Tuy nhiên, có khả năng chúng sẽ trở thành loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nếu tình trạng bảo tồn không được cải thiện.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chúng được tìm thấy ở độ cao so với mặt nước biển tới 1.600 m, sinh sống ở rừng thường xanh, núi đá vôi và các khu rừng rụng lá. Mặc dù chúng có thể dễ dàng quan sát tại Khu Bảo tồn Thiên Nhiên Sơn Trà nhưng quần thể lớn nhất hiện có ở Việt Nam được tìm thấy tại Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Lá cây là thức ăn chủ yếu, chúng chiếm khoảng 80%. Ở Việt Nam, 125 loài thực vật đã được tìm thấy trong khẩu phần ăn của loài này. Các đàn duy trì một đực với nhiều con cái hoặc nhiều con đực với nhiều con cái hoặc nhiều con cái, mỗi đàn thường có từ 5 đến 10 cá thể. Chà vá chân nâu vẫn hoạt động mạnh dưới trời mưa miễn sao chúng không bị ướt nhiều (Hoang Ha).

Nhảy chuyền cành là hình thức vận động thường thấy ở loài này. Chúng vừa di chuyển vừa gây ra tiếng động và di chuyển trên các tán cây (Jonathan C. Eames).

Voọc chà vá chân nâu là loài có màu sắc rực rỡ nhất trong các loài linh trưởng. Chúng được biết mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng” cũng bởi vẻ ngoài xinh đẹp và độc đáo. Từ đầu gối đến mắt cá chân của Voọc chà vá chân nâu giống như “đôi tất dài màu nâu đỏ”, cẳng tay trước của chúng như được phủ một lớp găng tay trắng. Bàn tay và đôi chân lại có màu đen.

Voọc chà vá chân nâu có vành râu quai nón màu trắng và thường của con đực sẽ rậm rạp hơn. Đuôi dài màu trắng và có cụm lông trắng ở phía cuối. Phần bụng và lưng có màu xám. Bộ lông trên cơ thể là tổng hợp hài hòa của 5 màu đen, xám, trắng, nâu đỏ, cam nên còn được gọi là voọc ngũ sắc.

Cá thể trưởng thành có trọng lượng cơ thể trung bình ở con đực và con cái tương ứng 11 kg và 8,44 kg. Kích thước thân trung bình khoảng 61 cm ở con đực và 55 cm ở con cái. Đuôi thuôn và dài 55 – 76 cm. Ở con đực có hai túm lông trắng ở hai góc phía trên gốc đuôi hình tam giác.

Voọc, giống như các loài khỉ khác, thích sống bầy đàn. Chúng sống trong nhóm từ 4 đến 15 con nhưng đã từng ghi lại được nhóm lên tới 50 con. Một nhóm thường có một hoặc vài con đực và trung bình sẽ có hai con cái nếu có một con đực. Cả con cái và con đực đều biết vị trí của mình trong đàn và con đực thường có vị trí cao hơn con cái. Cả con đực và con cái cuối cùng rồi sẽ rời khỏi đàn nơi chúng được sinh ra.

Giống các loài khác thuộc họ Khỉ cựu thế giới, đuôi của chúng không dùng để cầm nắm. Đuôi chỉ được sử dụng cho một mục đích duy nhất là cân bằng. Chúng dùng tay và chân để di chuyển trong rừng. Một khi đã bắt đầu di chuyển cả nhóm sẽ được dẫn dắt bởi con đực đầu đàn, với những con đực trẻ ở phía sau, con cái và con non an toàn ở giữa.

Loài voọc này sống trên cao, chúng di chuyển ở trên các tán rừng. Chúng rất nhanh nhẹn và thường có thể nhảy tới 6 mét (20 feet), với cánh tay dang rộng qua đầu, chúng đẩy chi dưới về phía trước và tiếp đất bằng 2 chân.

Bình thường, chà vá chân nâu sẽ di chuyển một cách ồn ào từ cành này sang cành khác qua khu rừng, đi qua các tán cây, nhảy nhót trên các cành và nhún nhảy bằng 2 chân cùng lúc, thể hiện khả năng giữ cân bằng tuyệt vời của mình. Nhưng khi có biến, bởi kẻ săn mồi hay những mối nguy hiểm khác, chúng có thể chạy trốn một cách yên lặng qua những cành cây, ra xa khỏi mối nguy hiểm.

Nếu chúng giật mình, chúng có thể kêu lớn, nháo nhác quanh các cành cây. Nhưng ngược lại với những lần di chuyển ồn ã, chà vá dành phần lớn thời gian để ăn trong yên lặng, tiêu hóa đống thức ăn, liu diu ngủ và chải lông cho nhau.

Loài khỉ này giao tiếp thông qua biểu cảm khuôn mặt. Nó như một màn biểu diễn khuôn mặt với cái miệng há rộng, răng nhe ra và cằm hướng về phía trước. Thỉnh thoảng, chúng nhắm mắt, quờ quạng nhau mà không để tâm tới mối nguy hiểm khi ở trên các cành cao.

Cái nhìn chằm chằm thể hiện sự đe dọa. Mặt nhăn nhó, miệng mở rộng và răng nhe ra cho thấy thái độ tuân phục sau khi bị nhìn chằm chằm. Biểu hiện này cũng thường thấy khi chúng bắt đầu chải lông cho nhau và chơi đùa. Chà vá chân nâu gầm gừ ở âm vực thấp, thể hiện sự đe dọa và kêu ré lên khi phải chịu đau.

Về tập tính giao phối và sinh sản, hiện chưa có đầy đủ thông tin mô tả quá trình này ngoài tự nhiên. Các quan sát và nghiên cứu trong môi trường nuôi nhốt ghi nhận: trước khi giao phối, cả con đực và con cái đều ra dấu hiệu bằng cách giơ cằm ra, lông mày nhếch cao và đầu cúi xuống. Con cái sẽ di chuyển trước, cắm mặt xuống cành cây, mắt nhìn vào con đực đã chọn. Con đực sẽ quay lại nhìn thẳng và có thể quay đi tìm nơi mà nó cho là phù hợp để giao phối.

Giai đoạn giao phối diễn ra từ tháng 8 đến tháng 12. Giai đoạn mang thai kéo dài trong khoảng từ 165 đến 190 ngày, con cái sẽ sinh một con non vừa đúng trước mùa quả chín. Sinh đôi thường rất hiếm. Con non khi chào đời mắt đã mở to và bám vào mẹ một cách bản năng.

Voọc con mới sinh có lông vàng cam, mặt màu đen, từ 8 – 24 tháng tuổi màu lông và màu mặt mới chuyển dần sang màu sắc của con trưởng thành. Trong môi trường nuôi nhốt, những thành viên khác trong nhóm cũng chăm sóc con non và những con cái khác có thể còn cho nó bú. Một nghiên cứu đã ghi nhận: con non được nhận nuôi sẽ do hai con cái và một con đực trong đàn chăm sóc. Con cái có thể bắt đầu giao phối khi đủ 4 tuổi trong khi con đực phải mất từ 4-5 năm. Vòng đời của chúng dài khoảng 25 năm.

Thức ăn của chúng chủ yếu bao gồm lá cây nhiều chất xơ. Thuộc phân loài Colobinae hay loài khỉ ăn lá, chúng có dạ dày to chia làm các túi chứa vi sinh giúp tách cellulose trong lá cây qua quá trình lên men, điều này khiến cho bụng của loài chà vá luôn phồng lên. Chúng cũng hay ợ do khí thải ra từ quá trình lên men này. Chà vá chân nâu thích ăn những lá non, nhỏ và mềm nhưng cũng thích hoa quả như quả sung, nụ, cuống lá, hoa và hạt.

Chúng lấy được đủ chất lỏng và protein chúng cần từ thức ăn mà không cần phải xuống tận mặt đất để uống nước. Loài khỉ này ăn tới 50 loại thực vật khác nhau nhưng không ăn thịt loài động vật nào. Thói quen ăn uống bừa bãi và hỗn tạp của chúng đã làm rơi nhiều thức ăn xuống mặt đất: lá khô, quả chưa chín hoặc hoa quả quá chín.

Chúng ăn một cách hòa bình bên cạnh nhau, chia sẻ thức ăn mà không tranh giành. Thường thì chúng chia sẻ một tán lá, chúng dùng tay tách tán lá đó ra chia cho nhau, đây là một hành động hào hiệp mà hiếm loài Khỉ cựu thế giới nào có.

Chà vá chân đen/Black-shanked Douc (Pygathrix nigripes)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primates
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Pygathrix
Loài (species): Pygathrix nigripes

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chà vá chân đen là một trong những loài voọc được tìm thấy ở khu vực sông Mekong, phía nam Việt Nam và đông Campuchia. Thức ăn gần như toàn lá. Dạ dày giống bò với 4 ngăn cho phép chúng tiêu hoá cellulose trong lá.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chúng được tìm thấy trong rừng bán nhiệt đới, từ độ cao ngang mực nước biển lên đến 800 m. Ở Việt Nam, địa bàn của chúng gồm các khu rừng ven biển thuộc Vườn Quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, rừng khộp trong Vườn Quốc gia Cát Tiên và rừng nhiệt đới trên núi ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Có thân lông xám với vết lông trắng ở mông. Lông vai và tay màu đen. Lông trên đầu màu xám nhưng có một vành đen phía trên trán. Chúng có vành râu quai nón màu trắng trong khi phía cổ thì lông màu đà, hung đỏ. Mắt chúng hơi xếch. Tay chà vá dài hơn chân. Đuôi dài, sắc lông trắng.

Khác biệt giữa ba loại chà vá là lông từ mông trở xuống. Chà vá chân đen, như tên đặt cho chúng, có cặp chân đen. Hai cánh tay cũng đen.

Thức ăn của chúng gần như toàn lá cây, thỉnh thoảng thêm trái cây và hoa.

Không như những loài khỉ khác, khi có biến chúng trở thành bất động nên dễ bị săn bắt.

Chúng sống trên cây. Trong một ngày, hai phần ba thời gian chúng nghỉ ngơi, thời gian còn lại để ăn và quan sát (Nguyen Van Truong). Khẩu phần ăn của chúng là các loại lá cây, đôi khi chúng ăn quả và các loại hạt, tỷ lệ phần trăm các loại này khác nhau phụ thuộc vào kiểu rừng (Le Khac Quyet). Tại Vườn Quốc gia Núi Chúa quần thể này có khoảng 500 – 700 cá thể (Jonathan C. Eames).

Voọc bạc đông dương/Germain’s Langur (Trachypithecus germaini)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus germaini

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Lãnh thổ của loài có nguy cơ tuyệt chủng này kéo dài từ phía Nam Miến Điện qua miền Nam Thái Lan, Nam Lào, Campuchia tới miền Nam Việt Nam, chỉ ở tỉnh Kiên Giang. Chưa rõ toàn cầu hiện còn bao nhiêu con nhưng số lượng đang giảm dần.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chúng xuất hiện ở rừng nhiệt đới, bán nhiệt đới, cả ở ven sông và rừng rụng lá hỗn hợp. Môi trường sống của chúng giống như của loài Voọc bạc an nam. Tuy nhiên, loài này sống xa hơn về phía Nam và chưa có ghi nhận cho thấy hai loài này sống chung trong một sinh cảnh.

Chúng xuất hiện ở Kiên Giang, Hòn Chông, Phú Quốc.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Voọc bạc có màu đen trên bàn tay, bàn chân và phần trên cơ thể của nó, sau đó chuyển dần sang màu xám nhạt hơn ở phần dưới. Chúng có đuôi dài màu xám và lông trắng trên khuôn mặt tròn. Con non của loài này có bộ lông màu cam sáng.

Chế độ ăn của voọc bạc là lá, chúng ăn cả lá, chồi và quả. Chế độ ăn này cần một thời gian nghỉ ngơi, vào lúc đó chúng có thể trải qua quá trình nhai lại.

Trachypithecus germaini giống như các loài voọc châu Á khác, là những loài linh trưởng phi xã hội. Chúng không ưa thích thực hiện các hành vi xã hội so với việc kiếm ăn và nghỉ ngơi, những hoạt động chiếm phần lớn thời gian trong ngày của chúng. Tuy nhiên, Trachypithecus germaini thường được quan sát thấy sống theo bầy gần gũi về mặt xã hội từ 10 đến 50 cá thể.

Những loài săn loài voọc, bao gồm cả voọc bạc, bao gồm báo hoa mai, hổ, chó săn và rắn lớn. Nhiều loài động vật ăn thịt nhỏ sẽ ăn voọc non.

Các mối đe dọa phổ biến đối với voọc bạc bao gồm săn bắn, buôn bán vật nuôi ngoại lai và mất môi trường sống do mở rộng nông nghiệp.

Voọc bạc an nam/Annamese Langur (Trachypithecus margarita)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus margarita

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài voọc an nam có nguy cơ tuyệt chủng này đã từng xuất hiện rộng rãi ở miền Nam Trung Bộ Việt Nam, Nam Lào và Đông Campuchia bên bờ tây của sông Mekong. Loài này chỉ còn phân bố rải rác ở một số nơi do nạn săn bắt, môi trường sống bị mất, và gần đây ở Việt Nam rất ít khi thấy chúng.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này xuất hiện ở rừng nhiệt đới, bán nhiệt đới, rừng rụng lá hỗn hợp, rừng ven sông, đặc biệt là ở đồng bằng. Rừng trên đồi thì ít khi thấy. Chúng được tìm thấy ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Cú, Vườn Quốc gia Cát Tiên, Chư Mom Ray, Kon Ka Kinh và Yok Đôn.

Rừng ven sông là môi trường sống quan trọng cho loài này.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Bộ lông của loài có màu sáng hơn so với màu lông của loài Voọc bạc đông dương.

Hiện chưa ước tính được loài này còn bao nhiêu con, nhưng có một điều chắc chắn là số lượng loài này đang giảm. Săn bắt để lấy thịt, làm thuốc và sử dụng như thú cảnh là một trong những nguy cơ đe dọa đến loài này. Tập tính ăn đất nhiều Natri có thể do chúng ăn nhiều lá cây có độc, lượng natri này giúp chúng loại bỏ các chất gây nguy hiểm (Jonathan C. Eames).

Voọc xám/Indochinese Grey Langur (Trachypithecus crepusculus)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus crepusculus

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Trước đây loài này được xếp chung và một phân loài với Voọc xám. Nhưng sau này được tách ra, loài này có nguy cơ tuyệt chủng được tìm thấy tại Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Việt Nam.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này được ghi nhận tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải tại Yên Bái và ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

Loài này sinh sống ở rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thoái hoá, rừng rụng lá hỗn hợp, và các khu tre mọc, đôi khi gần đồn điền. Rừng trên núi đá vôi cũng có ghi nhận sự xuất hiện. Tại Việt Nam, nó được tìm thấy ở một số khu bảo tồn như Vườn Quốc gia Pù Mát và Bến En, Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên và Pù Luông.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Đây là loài khỉ có thân hình thon nhỏ, trọng lượng 5 – 9 kg. Chúng có đặc điểm nhận dạng là bộ lông màu xám tro tới màu nâu đen, đỉnh đầu có mào lông xám, da bao quanh mắt có màu xanh và trắng. Lông ở vùng lưng thẫm hơn ở vùng bụng. Bên hông có các lông dài, đầu lông có ánh bạc. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi rất dài. Chân tay rất dài, chân tay có màu đen, phần trên cánh tay, chân và đuôi có màu xám bạc.

Voọc xám sống trong các khu rừng trên núi đá các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Chúng sống thành từng nhóm từ 3 – 30 cá thể. Chúng sống ở những vùng rừng cây cao trên núi đá vôi, không sống trên rừng hỗn giao tre nứa. Chúng hoạt động vào ban ngày. Cuộc sống leo trèo trên cây. Có thể gặp chúng kiếm ăn ở vùng đồi cây bụi gần rừng. Thường ngủ trên các vách núi đá vôi dựng đứng hoặc trên tán cây cao rậm kín gió.

Voọc xám sống chung với khỉ mốc, khỉ vàng nhưng không cạnh tranh về thức ăn. Thức ăn chủ yếu là quả 24,4%, lá 58,4%, các loại khác 9,7%. Kẻ thù tự nhiên là các loài thú ăn thịt cỡ lớn. Voọc xám sinh sản quanh năm. Đã gặp voọc cái có chửa vào tháng 3 và tháng 7. Gặp voọc mẹ mang con trên ngực vào các tháng 4, 6, 10, 12. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ màu vàng nhạt.

Voọc đen má trắng/Francois’s Langur (Trachypithecus francoisi)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus francoisi

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Là loài voọc phân bố xa nhất về phía Bắc, xuất hiện từ miền Nam Trung bộ Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam. Loài voọc này đang bị đe doạ mới mức độ cực kì nghiêm trọng.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chúng sống trên các núi đá vôi, loài này dùng các khe nứt và hang động làm chỗ ngủ (Le Khac Quyet).

Loài này sống rải rác ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang và Bắc Cạn. Quần thể lớn nhất còn tồn tại là ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Du Già, tỉnh Hà Giang.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Bộ lông dày, màu đen tuyền. Hai má trắng, đám lông trắng rộng vượt quá chỏm vành tai. Đầu thường có mào lông đen. Đuôi dài hơn thân, màu đen.

Voọc đen má trắng chủ yếu sống ở rừng trên núi đá vôi và kiếm ăn trong các dải rừng kín thường xanh tiếp giáp với rừng núi đá vôi gần vùng sống của chúng. Voọc đen má trắng sống thành đàn. Trước đây, đàn voọc thường rất đông, 20 – 30 con (Lê Hiền Hào, 1973), nhưng hiện nay phổ biến 5 – 15 con (Phạm Nhật, 2000).

Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Cường độ kiếm ăn của voọc má trắng diễn ra mạnh vào hai thời điểm, đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút. Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau. Mùa nóng Voọc rời chỗ ngủ sớm, về hang muộn và thời gian nghỉ trưa khá dài. Về mùa lạnh, chúng đi kiếm ăn muộn và về hang ngủ sớm. Voọc đen má trắng ăn lá chồi non và quả cây rừng, không ăn động vật.

Bước đầu đã ghi nhận được 44 loài thuộc 22 họ thực vật được Voọc đen má trắng sử dụng làm thức ăn (Pham Nhật, 2000). Có nhiều loài thực vật được Voọc đen má trắng thích ăn nhất là cây họ Dâu tằm Moraceae, Ba mảnh vỏ Ephorbiaceae, Cau dừa Arecaceae. Các số liệu nghiên cứu cho thấy tuy chúng ăn rất nhiều loại quả nhưng trong khẩu phần thức ăn thì khối lượng lá, đặc biệt là cuống chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại thức ăn quả và thân.

Voọc đen má trắng chủ yếu ngủ hang. Mùa nóng, chúng ngủ trên những tảng đá hoặc cây gỗ trước cửa hang, mùa lạnh ngủ trong hang. Hang ngủ của Voọc thường tìm thấy ở những nơi vách đá dựng đứng.
Dữ liệu sinh sản của Voọc đen má trắng còn thiếu. Quan sát thực địa thường gặp con mẹ mang con non ở các tháng khác nhau của năm, nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 7. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ có bộ lông màu vàng

Voọc hà tĩnh/Hatinh Langur (Trachypithecus hatinhensis)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus hatinhensis

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài Voọc hà tĩnh có nguy cơ tuyệt chủng này sinh sống ở một vùng nhỏ tại miền Trung Việt Nam, giới hạn ở Quảng Trị và Quảng Bình. Một số khác có thể tìm thấy tại Khammouane ngay bên cạnh Lào.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Voọc hà tĩnh sống trên các khối lớn nhất trong hệ thống núi đá vôi ở Đông Dương, ở đó chúng thích những ngọn đồi được rừng rậm bao phủ. Chúng được tìm thấy trong hai khu bảo tồn ở Việt Nam: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở tỉnh Quảng Bình và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Chúng giành phần lớn thời gian ở trên cây. Sống thành từng đàn 7 – 8 con, gồm một con đực cùng với các con cái và con của chúng. Chúng bị đe dọa bởi nạn săn bắt, chủ yếu để làm thuốc. Chúng thường bị người ta bắt trên lối vào hang động của chúng (Le Khac Quyet).

Vượn đen má hung trung bộ/Northern Yellow-cheeked Crested Gibbon (Nomascus annamensis)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus annamensis

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Được mô tả vào năm 2010 từ dữ liệu tiếng hú và di truyền học. Đây là loài được ghi nhận ở Trung Bộ, Việt Nam; phía Tây đến Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Đây là loài chưa được IUCN đánh giá nhưng được đưa vào diện loài nguy cấp do các tác động bởi săn bắn, mất sinh cảnh sống, và sinh cảnh sống của loài này hiện chỉ còn ở một phạm vi nhỏ.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Ở Việt Nam, loài này có phạm vi phân bố từ sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị đến sông Ba, tỉnh Gia Lai và tỉnh Phú Yên. Chúng được tìm thấy ở những khu rừng thường xanh từ độ cao 50 đến 1.205 m. Ở Việt Nam, loài này được ghi nhận ở tám Khu Bảo tồn khác nhau trong đó có Vườn Quốc gia Bạch Mã.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Loài vượn đen má hung Trung Bộ được mô tả là khá giống vượn đen má vàng Nomascus gabriellae. Khó phân biệt chúng với loài Vượn đen má vàng. Con cái được phân biệt bởi khuôn mặt, ở đỉnh đầu có màu tối và ngực có mảng tối (Tilo Nadler).

Con đực có màu lông đen và ít lông bạc, lông đen của chúng khi ra ánh sáng mặt trời lại có ánh bạc. Lông ngực màu nâu, lông dưới má hung vàng và mảng lông này không kéo dài lên phía trên mặt-khác với các loài vượn khác trong cùng chi. Con cái lông màu sáng hơn, màu da cam pha vàng be, có ít vệt đen trên đầu. Loài vượn đen má hung Trung Bộ phân biệt khá rõ với các loài vượn má sáng màu khác ở các đặc điểm tần số và nhịp độ phát âm thanh gọi bầy, cảnh báo kẻ địch xâm nhập lãnh địa.

Vượn đen má hung/Southern White-cheeked Crested Gibbon (Nomascus siki)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus siki

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này ban đầu được coi là một phân loài của Vượn đen má trắng miền bắc. Chúng có địa bàn sinh sống rất nhỏ ở Trung Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam, loài này đang bị đe dọa bởi môi trường sống xé lẻ và nạn săn bắt kể cả trong các Khu Bảo tồn. Năm 2016, IUCN xếp chúng vào danh lục các loài nguy cấp (EN) và còn tới 86 đàn. Nhưng hiện nay vào lần cập nhật dữ liệu 2020 loài này đã được xếp lên mức CR tức mức cao nhất của tình trạng bảo tồn và suy đoán chỉ còn khoảng 600 cá thể.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Ở Việt Nam loài này sống ở rừng nhiệt đới, kể cả trên núi đá vôi từ 30 đến 1800 m, trong ba Khu Bảo tồn: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Nước Trong ở tỉnh Quảng Bình và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá, Quảng Trị.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Đây là một loài ít được biết đến và hiện vẫn chưa có nghiên cứu về hành vi sinh thái của chúng (Nicolas Cornet). Ở con đực, màu trắng trên mặt lan quanh miệnh nhưng không tới tai. Con cái khó hơn để phân biệt với Vượn đen má trắng (Jeremy Holden).

Vượn đen má vàng/Southern Yellow-cheeked Crested Gibbon (Nomascus gabriellae)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus gabriellae

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài vượn này sinh sống ở khu vực miền Nam Việt Nam và miền Đông Campuchia. Có họ hàng rất gần với Vượn đen má vàng miền Bắc và chỉ có thể phân biệt bằng tiếng hú. Ngoài phá rừng làm mất đi nơi sinh sống của chúng, con non của loài này được bắt làm thú nuôi là 2 nguyên nhân gây suy giảm chính của loài này.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này sinh sống ở rừng thường xanh, rừng rụng lá từ độ cao 100 m đến 2.287 m so với mực nước biển. Ở Việt Nam chúng được ghi nhận ở 15 Khu Bảo tồn bao gồm Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà và Cát Tiên. Chúng bị suy giảm mạnh do nạn phá rừng trồng cà phê.

Vườn Quốc gia Cát Tiên và Bù Gia Mập được coi là 2 địa điểm có khả năng bảo vệ loài này tốt nhất với Cát Tiên 149 đàn, còn Bù Gia Mập là 124 đàn (Nicolas Cornet)

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Các con đực và cái trong chi Nomascus có hai màu. Trong khi con đực màu đen, đặc trưng cho chi, thì con cái lại có màu sáng hơn (Nicolas Cornet).

Sự uyển chuyển của cơ bắp và xương giúp chúng dễ dàng bám vào cây để di chuyển. Loài này bị săn bắn nhiều do con non của chúng khá ưa nhìn và dễ nghe lời nên con mẹ của loài này thường bị bắn chết và con non sẽ bị bắt để bán làm thú nuôi, một trong những nguyên nhân chính gây nên sự đe dọa khủng khiếp đối với loài này.

Cu li lớn/Bengal Slow Loris (Nycticebus bengalensis)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Lorisidae
Chi (genus): Nycticebus
Loài (species): Nycticebus bengalensis

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chúng xuất hiện khắp Đông Nam Á chỉ trừ miền Nam Việt Nam, loài này thường sống trong rừng. Chúng bị bắt nhiều làm thú nuôi và bán làm thuốc dân gian. Vết cắn của chúng có độc. Khi chúng liếm cánh tay, chất ở tuyến cánh tay này cộng với nước bọt của chúng tạo thành chất độc.

Trước đây loài này chỉ bị đe doạ ở mức VU tức loài dễ bị tổn thương nhưng về sau này đã xếp lên loài bị đe doạ EN.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đây là loài sống ở trên cây và sống một mình. Chúng sống ở một số Khu Bảo tồn ở Việt Nam nhưng chúng dễ dàng lẩn trốn trừ khi tìm vào ban đêm.

Chúng xuất hiện hầu như tại các Vườn Quốc gia từ miền Trung Nam Bộ ra đến hết lãnh thổ phía Bắc nước ta.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Loại linh trưởng di chuyển chậm này có mắt to lồi, tai nhỏ và gần như bị lông rậm che khuất. Đuôi của chúng chỉ là một mẩu cụt. Đây là loài sống trên cây, kiếm ăn ban ngày. Phân tích phát sinh loài cho thấy Cu li lớn có liên quan chặt chẽ nhất với Cu li chậm Sunda. Tuy nhiên, một số cá thể trong cả hai loài có trình tự DNA ty thể mà giống với những loài khác, do lai thẩm nhập.

Nó là loài lớn nhất của chi Nycticebus, chiều dài 26 – 38 cm (10–15 in) từ đầu đến đuôi và nặng 1 – 2,1 kg (2,2 và 4,6 lb). Các độc tố nó tiết ra từ tuyến cánh tay của nó (một tuyến mùi hương trong cánh tay của nó) khác nhau về mặt hóa học từ đó loài Nycticebus khác và có thể được sử dụng để truyền đạt thông tin về giới tính, tuổi tác, sức khỏe, và địa vị xã hội.

Các phương thuốc cổ truyền châu Á sử dụng loài này làm thuốc và chúng đã bị tận diệt cho mục đích thương mại. Các quốc gia như Anh hiện đã cấm mua bán loại này cũng như thuốc sản xuất từ chúng.

Tại Việt Nam, cu li lớn được xếp vào Danh mục các loài động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

Cu li nhỏ/Pygmy Slow Loris (Nycticebus pygmaeus)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Lorisidae
Chi (genus): Nycticebus
Loài (species): Nycticebus pygmaeus

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Sinh sống khắp Campuchia, Lào và Việt Nam – tại đây, địa bàn của chúng kéo dài từ miền Bắc đến miền Nam, chỉ trừ đồng bằng sông Cửu Long. Chúng xuất hiện ở tất cả các loại rừng và thích nghi được với môi trường sống bị suy thoái. Số lượng đang bị suy giảm nhiều mặc dù đang được bảo tồn khá nghiêm ngặt. Giống với “người anh em” của mình là Cu li lớn, Cu li nhỏ hiện tại đã được IUCN nâng mức độ bảo tồn từ VU lên EN tức loài đang bị đe dọa.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này được tìm thấy rất nhiều trên nước ta trong các Khu Bảo tồn và Vườn Quốc gia trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Chúng được tìm thấy trong các khu rừng rộng, khô cận nhiệt đới và nhiệt đới.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Thức ăn của chúng là các loài côn trùng, bọ cánh cứng, quả cây, lá cây non, trứng chim và chim non trong tổ… Chúng sống trong tất cả các sinh cảnh rừng, kể cả rừng tre nứa, đồi cây bụi… Là động vật ăn đêm, ban ngày chúng cuộn tròn mình lại ngủ trong lùm cây. Chúng chủ yếu hoạt động kiếm ăn về đêm, ở rừng thưa quang thoáng, trên các gốc cây, bụi rậm ven rừng, trên nương rẫy, chúng kiếm ăn từ độ cao 1 đến 12 m và có thể di chuyển nhanh chóng qua các thảm thực vật.

Chúng ăn trái cây, thằn lằn nhỏ, động vật không xương sống và đặc biệt là nhựa cây. Các con cái thường đẻ sinh đôi và mang theo con chúng trong 2 đến 3 tuần lễ đầu tiên.

Đặc điểm nhận dạng loài khỉ nhỏ đáng yêu này là lông mềm mại màu hung nâu xen kẽ ít lông trắng bạc. Dọc sống mũi có vết trắng. Dọc sống lưng có vết hoe đỏ thẫm. Bụng trắng vàng ánh bạc. Một con Nycticebus pygmaeus trưởng thành chỉ từ 19 – 23 cm, trọng lượng từ 377 gram đến 450 gram.

Cơ quan sinh sản của Cu li nhỏ phát triển đầy đủ nhất khi con cái đủ 16 tháng, con đực 18 tháng. Thời gian mang thai của chúng thường kéo dài từ 184 đến 200 ngày. Lúc còn nhỏ, Cu li nhỏ con sẽ bám vào bụng mẹ. Sau sáu tháng, chúng sẽ cai sữa.

Tại Việt Nam, Cu li nhỏ được xếp vào Danh mục các loài động vật nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại.

Khỉ đuôi lợn/Northern Pig-tailed Macaque (Macaca leonina)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Macaca
Loài (species): Macaca leonina

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Được tìm thấy ở khu vực Đông Nam Á, tại Việt Nam loài này ghi nhận phân bố khu vực miền Trung và miền Nam nhưng không ghi nhận phân bố ở miền Bắc và đồng bằng sông Cửu Long. Chúng đang suy giảm vì bị săn bắt bán lấy xương làm thuốc dân gian và hậu quả của việc phá rừng để phát triển nông nghiệp và cơ sở hạ tầng.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Chúng xuất hiện ở rừng thường xanh, bán thường xanh và rừng rụng lá trên những vùng đất thấp, tuy nhiên có ghi nhận chúng ở độ cao khoảng 2.000 m. Chúng phân bố ở nhiều vùng tại Việt Nam bao gồm 20 khu bảo tồn nhưng không đặc biệt phổ biến tại bất kì vùng nào. Ước chừng số lượng cá thể cao nhất của loài này được ghi nhận ở khu vực dãy Trường Sơn nhưng hiện tại vẫn chưa ước tính được số lượng quần thể.

Một địa điểm có tỷ lệ cao tìm thấy loài này chính là Vườn Quốc gia Bạch Mã

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Con đực và con cái khi động dục sẽ dành nhiều thời gian cho nhau để giao phối, sau đó chúng chải chuốt, con đực sẽ dành 56% và con cái là 34% để nghỉ ngơi và giao phối với nhau. Đặc điểm nhận dạng loài này chính là các đặc điểm trên mặt và đầu (Coke Smith).

Chúng ăn chủ yếu các loại trái cây và thành phần thức ăn của chúng khá phong phú với tổng cộng 91 loài khác nhau (Hoang Minh Duc). Chúng sống chủ yếu trên cây và khi gặp nguy hiểm chúng nhảy qua các cây để tẩu thoát (Hoang Ha).

Khỉ mặt đỏ/Stump-tailed Macaque (Macaca arctoides)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Macaca
Loài (species): Macaca arctoides

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Được mô tả lần đầu năm 1831 từ một mẫu vật thu được ở miền Nam Việt Nam, loài này xuất hiện khắp Đông Nam Á và phân bố rộng rãi ở Việt Nam. Chúng đang bị mất dần môi trường sống, bị săn lùng khắp nơi để lấy xương và chịu thiệt hại vì bị sử dụng cho nghiên cứu y học.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này xuất hiện trong các khu rừng thường xanh, bán thường xanh, rừng rụng lá và đôi khi ở cả rừng tre để thích nghi với môi trường sống thu hẹp dần. Chúng thường sống ở độ cao từ 50 đến 2.800 m không thường ghi nhận được dữ liệu về loài này ở những địa bàn quá thấp. Chúng cũng có ở các khu bảo tồn nhưng hiếm khi bắt gặp.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Có chiều dài thân 485 – 700 mm, dài đuôi 30 – 50 mm, khối lượng từ 7 đến 18 kg. Bộ lông màu vàng nhạt, xám nhạt hoặc đen.

Chưa rõ tình trạng quần thể ở Việt Nam nhưng số lượng của chúng đang giảm dần vì nạn săn bắt. Ở những khu vực không bị săn bắt, chúng có thể xuất hiện với những đàn lớn lên đến hơn 100 con (Fan Peng Fei).

Khỉ mốc/Assamese Macaque (Macaca assamensis)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Macaca
Loài (species): Macaca assamensis

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Khỉ mốc phân bố rộng rãi ở phía Đông Bắc Ấn Độ, Bhutan, Tây Nam Trung Quốc, Thái Lan, Miến Điện, Lào và Việt Nam.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Ở Việt Nam chúng xuất hiện ở các khu rừng thường xanh, bán thường xanh, thậm chí trên cả núi đá vôi, và ở các khu vực có độ cao cao hơn khu vực Tây Bắc và dãy Trường Sơn.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Con đực nặng 10 kg đến 14,5 kg, con cái nặng 8 kg đến 12 kg. Có bộ lông màu vàng xám đến nâu sẫm. Đầu có một phần tóc màu tối ở má hướng ngược về phía tai. Phần tóc trên vương miện được rẽ ngôi giữa. Vai, đầu và cánh tay màu có xu hướng nhạt hơn so với phần thân sau, có màu xám. Đuôi ngắn và có nhiều lông. Chiều dài từ đầu đến thân là 51 đến 73,5 cm (20,1 đến 28,9 in) và đuôi dài 15 đến 30 cm (5,9 đến 11,8 in).

Thức ăn của khỉ mốc là trái cây, lá, ngũ cốc và một số động vật không xương sống. Sống hàng ngày, và đôi khi cả trên cây và trên cạn. Chúng ăn tạp và ăn trái cây, lá cây, động vật không xương sống và ngũ cốc. Chúng thích những cánh đồng trồng ngô, tiếp theo là củ khoai tây, nhưng cũng đánh phá các cánh đồng trồng lúa mì, kiều mạch và kê.

Khỉ vàng/Rhesus Macaque (Macaca mulatta)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Macaca
Loài (species): Macaca mulatta

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đây là loài khỉ phân bố rộng rãi nhất ở châu Á, từ Afghanistan đến bờ biển phía Đông của Trung Quốc. Chúng xuất hiện khắp miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Vượt lên tất cả các loài linh trưởng khác ở châu Á, ngoại trừ con người, đây là loài có khả năng thích ứng tuyệt vời, có thể tìm thấy ở mọi môi trường sống.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Khỉ vàng này có thể sống trong điều kiện dao động rất lớn của nhiệt độ môi trường, lượng mưa cũng như độ cao. Từ vùng rất lạnh tới vùng nóng gần 50 °C, từ nơi rất khô tới nơi có lượng mưa hàng năm 10.000 mm và từ độ cao so với mặt nước biển tới 3.050 m. Chúng thích sống trong các khu rừng nguyên sinh, thứ sinh, rừng khô, rừng hỗn giao, rừng tre nứa, rừng ngập nước, rừng thưa nhiệt đới, rừng thông, cây bụi, rừng ẩm nhiệt đới, gần khu nông nghiệp. Chúng sống tới độ cao 3.000m . Nước là yếu tố ngăn cản của sự phân bố.

Ở Việt Nam, trước năm 1975, phân loài này còn gặp rất phổ biến ở các khu rừng các tỉnh phía Bắc tới Tây Nguyên trên diện tích ước tính khoảng >20.000 km2.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Khỉ vàng có thân màu nâu, phần mông, hai bên hông và đùi màu nâu đỏ, nhìn chung, toàn thân màu nâu vàng. Con trưởng thành mặt có màu đỏ. Lông trên đỉnh đầu ngắn, phía sau thân màu nâu nhạt hơn phía trước. Đuôi có độ dài trung bình ngắn hơn 3/4 chiều dài đầu và thân, được phủ một lớp lông tốt. Vùng mông ngoài và đùi có màu hung đỏ, da quanh chai mông tròn, không có lông.

Khỉ cái mang thai khoảng 6 tháng, đẻ một con và nuôi con nhỏ bằng sữa. Tuy nhiên, cũng có trường hợp khỉ cái đẻ sinh đôi. Khỉ vàng 4 tuổi là trưởng thành. Chúng là loài hoạt động ban ngày, phần lớn dưới đất, một phần trên cây nhưng khoảng 75% thời gian trong ngày chúng hoạt động trên mặt đất (Nguyen Van Truong).

Tuổi thành thục từ 42-48 tháng, thời gian mang thai 164 ngày. Khoảng cách giữa các lần sinh 12-24 tháng. Thời gian sinh sản trong năm khoảng 3-6 tháng. Khỉ có tuổi thọ khoảng 25 năm, có con sống được đến 30 năm.

Từ năm 1975 trở lại đây tình trạng của phân loài thay đổi rõ rệt. Số lượng quần thể giảm mạnh. Số lượng tiểu quần thể hiện nay khoảng 50 do nơi cư trú bị xâm hại, rừng bị chặt phá, diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp và đây là đối tượng săn bắt để lấy thịt, nấu cao, buôn bán và xuất khẩu.

Từ năm 1962, khỉ vàng bắt đầu được nuôi theo phương pháp bán tự nhiên tại trại chăn nuôi đảo Rều, khỉ vàng tổ chức nhân nuôi với số lượng hàng nghìn con để sản xuất vacxin từ đó đảo Rều có một vương quốc khỉ vàng quần tụ sinh sống. Hơn 1.000 con khỉ vàng được nuôi trên đảo Rều phục vụ sản xuất văcxin và các công trình nghiên cứu y học. Đây là những chú khỉ được nuôi để sản xuất văcxin bại liệt và phục vụ nhiều công trình nghiên cứu y học.

Trong tự nhiên, khỉ vàng sống thành nhóm tới 50 cá thể. Chúng sống theo từng bầy, mỗi bầy có một khỉ chúa. Cấu trúc đàn dạng nhiều đực, nhiều cái. Trong đêm thường con cái sống tập thể. Con đực đầu đàn tuy có dẫn đầu nhưng thường ở phía ngoài của nhóm.

Khi chúng kêu tiếng “hu hi hu hi” là tiếng gọi bầy đàn đến lấy thức ăn, tiếng “chí chóe” là tiếng mâu thuẫn đang có xô xát, tiếng “cách cách” của khỉ chúa là tiếng báo hiệu cho bầy đàn có nguy hiểm. Khỉ thường sống theo đàn khoảng 30 – 50 con/đàn, mỗi đàn có một con đầu đàn gọi là khỉ chúa, là con khỉ đực to lớn và có sức khoẻ nhất trong đàn. Mỗi khỉ chúa thường sở hữu đến 3 – 4 khỉ cái.

Khỉ vàng cũng tham vọng tranh giành quyền lực, cũng yêu thương mãnh liệt, cũng thù, ghét, đau buồn khi đồng loại qua đời. Những đêm trăng sáng cả đảo mất ngủ với khỉ, bởi có trăng chúng đi chơi suốt đêm. Chúng nô đùa, con nào có bạn tình rồi thì cùng ngồi áp vào nhau ngắm trăng.

Trước khi chết vì già hay ốm đau, khỉ thường tìm đến nguồn nước, để uống ngụm nước cuối cùng trong đời rồi chết ở đó. Có con khỉ yếu quá không về được tới nơi, được đàn khỉ khênh về. Khi chết đàn khỉ cũng kéo đến ngồi ở đó.

Khỉ đuôi dài/Long-tailed Macaque (Macaca fascicularis)

Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Macaca
Loài (species): Macaca fascicularis

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này có hầu hết khu vực Đông Nam Á và miền Nam Việt Nam. Mặc dù, chúng được coi là loài ít lo ngại bởi sự phân bố rộng rãi. Ngày 7 tháng 3 năm 2022 loài này được nâng mức bảo tồn từ LC lên hẳn EN mới mức độ nguy cấp đứng thứ 2 trong danh mục sách đỏ của IUCN.

Một số khu vực có thể xem và quan sát

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Loài này thường thích sống ở ven sông hoặc ven biển, kể cả rừng ngập mặn, đất canh tác nông nghiệp và thậm chí cả khu bán đô thị trong địa bàn của chúng. Đây là loài linh trưởng quen thuộc nhất ở Việt Nam và có thể dễ dàng bắt gặp ở Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ và Vườn Quốc gia Côn Đảo.

24 loài Linh trưởng Việt Nam

Đặc điểm

Chiều dài cơ thể của con trưởng thành, khác nhau giữa các phân loài, là 38–55 cm với tay và chân tương đối ngắn. Con đực lớn hơn đáng kể so với con cái, cân nặng 5–9 kg so với cân nặng 3–6 kg của con cái. Đuôi dài hơn cơ thể, thường dài 40–65 cm, được sử dụng để giữ thăng bằng khi chúng nhảy khoảng cách lên đến 5 m. Các phần trên của cơ thể có màu nâu sẫm với các chóp màu nâu vàng nhạt.

Các phần bên dưới có màu xám nhạt với phần đuôi màu xám đậm/nâu. Có lông đỉnh hướng ra sau, đôi khi tạo thành mào ngắn ở đường giữa. Da của chúng có màu đen ở bàn chân và tai, trong khi da ở mõm có màu hồng xám nhạt. Mí mắt thường có những mảng trắng nổi rõ và đôi khi có những chấm trắng trên tai. Con đực có ria mép và râu trên má đặc trưng, trong khi con cái chỉ có râu trên má. Chúng có một túi má dùng để đựng thức ăn trong khi kiếm ăn.

Danh lục 24 loài linh trưởng Việt Nam và hiện trạng bảo tồn của chúng theo IUCN 2022

Vậy sau khi tìm hiểu về các loài trên và dựa trên sự cập nhật của IUCN mới nhất về 24 loài Linh trưởng Việt Nam. Wanee xin được phép chỉnh sửa lại hiện trạng bảo tồn như sau:

STTTên loàiHiện trạngĐặc hữu
Việt nam
1Chà vá chân xám Pygathrix cinereaCR
2Voọc mũi hếch Rhinopithecus avaunculusCR
3Voọc cát bà Trachypithecus poliocephalusCR
4Vượn đen tuyền Nomascus concolorCR
5Vượn đen má trắng Nomascus leucogenysCR
6Voọc mông trắng Trachypithecus delacouriCR
7Vượn cao vít Nomascus nasutusCR
8Chà vá chân nâu Pygathrix nemaeusCR
9Chà vá chân đen Pygathrix nigripesCR
10Vượn đen má hung Nomascus sikiCR
11Voọc bạc đông dương Trachypithecus germainiEN
12Voọc bạc annam Trachypithecus margaritaEN
13Voọc xám Trachypithecus crepusculusEN
14Voọc đen má trắng Trachypithecus francoisiEN
15Voọc hà tĩnh Trachypithecus hatinhensisEN
16Vượn đen má hung trung bộ Nomascus annamensisEN
17Vượn đen má vàng Nomascus gabriellaeEN
18Cu li lớn Nycticebus bengalensisEN
19Cu li nhỏ Nycticebus pygmaeusEN
20Khỉ đuôi dài Macaca fascicularisEN
21Khỉ đuôi lợn Macaca leoninaVU
22Khỉ mặt đỏ Macaca arctoidesVU
23Khỉ mốc Macaca assamensisNT
24Khỉ vàng Macaca mulattaLC

Như vậy, 24 loài Linh trưởng Việt Nam hiện tại có 10 loài đang nằm ở mức cực kỳ nguy cấp, 10 loài ở mức nguy cấp, 2 loài ở mức dễ tổn thương và 2 loài nằm ở mức sắp bị đe doạ và ít được quan tâm.

Bài viết trên để nói về đặc điểm sự đẹp đẽ của Linh trưởng Việt Nam đồng thời kêu gọi mọi người góp phần vào công cuộc bảo vệ các loài Linh trưởng ở Việt Nam nói riêng và thiên nhiên hoang dã Việt Nam nói chung. Nếu bạn muốn sử dụng thông tin của bài viết này để săn hoặc khai thác trái phép các loài này hãy nghĩ về con cháu của mình, nếu bạn săn bắt hết các loài này thì con cháu của bạn liệu có thể xem thấy chúng trong tương lai được không.

Bài viết liệt kê và nói lên tình trạng nguy cấp của 24 loài Linh trưởng Việt Nam đang cực kỳ nguy cấp thông tin ở đây được tham khảo từ cuốn sách: “BẢO VỆ LINH TRƯỞNG VIỆT NAM BÊN BỜ VỰC THẲM” của Jonathan Charles Eames xuất bản năm 2016 do NHÀ XUẤT BẢN THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM.

Tác giả: Hoang Quy Wanee

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

wanee_outdoor_shop