Vượn đen má trắng/Northern White-cheeked Crested Gibbon (Nomascus leucogenys)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus leucogenys

Vượn đen má trắng, loài vượn có nguy cơ tuyệt chủng cao này được tìm thấy ở phía nam Vân Nam, Trung Quốc, Bắc Lào và Tây Bắc Việt Nam. Mặc dù chúng sinh sống ở tám khu bảo tồn của Việt Nam, các biện pháp hiện nay vẫn không đủ để ngăn chặn đà suy vong của chúng và nguy cơ loài này có khả năng tuyệt chủng là rất cao.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Loài này hiện tồn tại chủ yếu như những quần thể nhỏ và cô lập. Mặc dù sống ở tám khu bảo tồn tại Việt Nam, các quần thể này quá nhỏ để có thể tồn tại được và dự báo có nguy cơ tuyệt chủng. Quần thể lớn nhất được cho là ở Vườn Quốc gia Pù Mát ước tính khoảng 130 đàn.
Chúng sinh sống trong các khu rừng thường xanh, bán thường xanh từ độ cao 200 đến 1.650 m, hậu quả của việc phá rừng các quần thể còn lại được tìm thấy ở độ cao trên 700 m, như Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên.

Đặc điểm
Giống như các thành viên khác trong chi, cả con đực và con cái của loài đều có cánh tay dài bất thường ngay cả đối với vượn, với cánh tay dài gấp 1,2 đến 1,4 lần chân. Chúng cũng cơ bắp hơn, có đùi và vai nặng hơn cho thấy một sức mạnh cơ thể lớn hơn. Con trưởng thành thích dùng tay khi đu qua các cành cây, với tỉ lệ thuận tay trái hoặc tay phải của các cá thể là tương đương nhau.
Loài này gần giống vượn đen siki, nhưng có lông trên cơ thể hơi dài hơn và phát ra âm thanh hơi khác một chút. Cũng có thể phân biệt con đực của hai loài này thông qua hình dạng của các mảng trắng trên má của chúng; ở loài vượn đen má trắng, chúng chạm đến viền trên của tai và không chạm vào khóe miệng, trong khi ở vượn đen siki, chúng chỉ chạm đến nửa tai và hoàn toàn bao quanh môi.
Giống như các loài vượn khác, loài này sống thành đàn một vợ một chồng. Ở Việt Nam, các đàn thường gồm 3-5 con. Lông má trắng của các loài này chỉ ở hai bên khuôn mặt, còn cằm màu khác. Loài này có thể ăn ít trái cây hơn các loài vượn khác vì chúng phân bố về phía Bắc hơn (Fan Peng Fei).
Con cái có thể được phân biệt bởi màu lông phong phú hơn và chỏm lông đầu màu đen (Nicolas Cornet).
Vườn Quốc gia Pù Mát nuôi dưỡng 455 cá thể và là khu vực ưu tiên nhất để bảo tồn loài này ở Việt Nam. Địa thế xa xôi, gần biên giới Lào, khá thuận lợi để bảo vệ, tuy nhiên việc phát triển đường bộ qua các vùng sinh sống của loài vượn đã đe dọa sự sống còn của chúng.
Chà vá chân nâu/Red-shanked Douc (Pygathrix nemaeus)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primates
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Pygathrix
Loài (species): Pygathrix nemaeus

Là loài nhiều màu sắc nhất trong các loài voọc, Chà vá chân nâu có thể gọi là loài linh trưởng đẹp nhất thế giới. Được tìm thấy chủ yếu ở Lào và Việt Nam, nhưng đôi khi cũng xuất hiện tại Campuchia, loài này có địa bàn sinh sống rộng lớn. Tuy nhiên, có khả năng chúng sẽ trở thành loài có nguy cơ tuyệt chủng cao nếu tình trạng bảo tồn không được cải thiện.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Chúng được tìm thấy ở độ cao so với mặt nước biển tới 1.600 m, sinh sống ở rừng thường xanh, núi đá vôi và các khu rừng rụng lá. Mặc dù chúng có thể dễ dàng quan sát tại Khu Bảo tồn Thiên Nhiên Sơn Trà nhưng quần thể lớn nhất hiện có ở Việt Nam được tìm thấy tại Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.

Đặc điểm
Lá cây là thức ăn chủ yếu, chúng chiếm khoảng 80%. Ở Việt Nam, 125 loài thực vật đã được tìm thấy trong khẩu phần ăn của loài này. Các đàn duy trì một đực với nhiều con cái hoặc nhiều con đực với nhiều con cái hoặc nhiều con cái, mỗi đàn thường có từ 5 đến 10 cá thể. Chà vá chân nâu vẫn hoạt động mạnh dưới trời mưa miễn sao chúng không bị ướt nhiều (Hoang Ha).
Nhảy chuyền cành là hình thức vận động thường thấy ở loài này. Chúng vừa di chuyển vừa gây ra tiếng động và di chuyển trên các tán cây (Jonathan C. Eames).
Voọc chà vá chân nâu là loài có màu sắc rực rỡ nhất trong các loài linh trưởng. Chúng được biết mệnh danh là “nữ hoàng linh trưởng” cũng bởi vẻ ngoài xinh đẹp và độc đáo. Từ đầu gối đến mắt cá chân của Voọc chà vá chân nâu giống như “đôi tất dài màu nâu đỏ”, cẳng tay trước của chúng như được phủ một lớp găng tay trắng. Bàn tay và đôi chân lại có màu đen.
Voọc chà vá chân nâu có vành râu quai nón màu trắng và thường của con đực sẽ rậm rạp hơn. Đuôi dài màu trắng và có cụm lông trắng ở phía cuối. Phần bụng và lưng có màu xám. Bộ lông trên cơ thể là tổng hợp hài hòa của 5 màu đen, xám, trắng, nâu đỏ, cam nên còn được gọi là voọc ngũ sắc.
Cá thể trưởng thành có trọng lượng cơ thể trung bình ở con đực và con cái tương ứng 11 kg và 8,44 kg. Kích thước thân trung bình khoảng 61 cm ở con đực và 55 cm ở con cái. Đuôi thuôn và dài 55 – 76 cm. Ở con đực có hai túm lông trắng ở hai góc phía trên gốc đuôi hình tam giác.
Voọc, giống như các loài khỉ khác, thích sống bầy đàn. Chúng sống trong nhóm từ 4 đến 15 con nhưng đã từng ghi lại được nhóm lên tới 50 con. Một nhóm thường có một hoặc vài con đực và trung bình sẽ có hai con cái nếu có một con đực. Cả con cái và con đực đều biết vị trí của mình trong đàn và con đực thường có vị trí cao hơn con cái. Cả con đực và con cái cuối cùng rồi sẽ rời khỏi đàn nơi chúng được sinh ra.
Giống các loài khác thuộc họ Khỉ cựu thế giới, đuôi của chúng không dùng để cầm nắm. Đuôi chỉ được sử dụng cho một mục đích duy nhất là cân bằng. Chúng dùng tay và chân để di chuyển trong rừng. Một khi đã bắt đầu di chuyển cả nhóm sẽ được dẫn dắt bởi con đực đầu đàn, với những con đực trẻ ở phía sau, con cái và con non an toàn ở giữa.
Loài voọc này sống trên cao, chúng di chuyển ở trên các tán rừng. Chúng rất nhanh nhẹn và thường có thể nhảy tới 6 mét (20 feet), với cánh tay dang rộng qua đầu, chúng đẩy chi dưới về phía trước và tiếp đất bằng 2 chân.
Bình thường, chà vá chân nâu sẽ di chuyển một cách ồn ào từ cành này sang cành khác qua khu rừng, đi qua các tán cây, nhảy nhót trên các cành và nhún nhảy bằng 2 chân cùng lúc, thể hiện khả năng giữ cân bằng tuyệt vời của mình. Nhưng khi có biến, bởi kẻ săn mồi hay những mối nguy hiểm khác, chúng có thể chạy trốn một cách yên lặng qua những cành cây, ra xa khỏi mối nguy hiểm.
Nếu chúng giật mình, chúng có thể kêu lớn, nháo nhác quanh các cành cây. Nhưng ngược lại với những lần di chuyển ồn ã, chà vá dành phần lớn thời gian để ăn trong yên lặng, tiêu hóa đống thức ăn, liu diu ngủ và chải lông cho nhau.
Loài khỉ này giao tiếp thông qua biểu cảm khuôn mặt. Nó như một màn biểu diễn khuôn mặt với cái miệng há rộng, răng nhe ra và cằm hướng về phía trước. Thỉnh thoảng, chúng nhắm mắt, quờ quạng nhau mà không để tâm tới mối nguy hiểm khi ở trên các cành cao.
Cái nhìn chằm chằm thể hiện sự đe dọa. Mặt nhăn nhó, miệng mở rộng và răng nhe ra cho thấy thái độ tuân phục sau khi bị nhìn chằm chằm. Biểu hiện này cũng thường thấy khi chúng bắt đầu chải lông cho nhau và chơi đùa. Chà vá chân nâu gầm gừ ở âm vực thấp, thể hiện sự đe dọa và kêu ré lên khi phải chịu đau.
Về tập tính giao phối và sinh sản, hiện chưa có đầy đủ thông tin mô tả quá trình này ngoài tự nhiên. Các quan sát và nghiên cứu trong môi trường nuôi nhốt ghi nhận: trước khi giao phối, cả con đực và con cái đều ra dấu hiệu bằng cách giơ cằm ra, lông mày nhếch cao và đầu cúi xuống. Con cái sẽ di chuyển trước, cắm mặt xuống cành cây, mắt nhìn vào con đực đã chọn. Con đực sẽ quay lại nhìn thẳng và có thể quay đi tìm nơi mà nó cho là phù hợp để giao phối.
Giai đoạn giao phối diễn ra từ tháng 8 đến tháng 12. Giai đoạn mang thai kéo dài trong khoảng từ 165 đến 190 ngày, con cái sẽ sinh một con non vừa đúng trước mùa quả chín. Sinh đôi thường rất hiếm. Con non khi chào đời mắt đã mở to và bám vào mẹ một cách bản năng.
Voọc con mới sinh có lông vàng cam, mặt màu đen, từ 8 – 24 tháng tuổi màu lông và màu mặt mới chuyển dần sang màu sắc của con trưởng thành. Trong môi trường nuôi nhốt, những thành viên khác trong nhóm cũng chăm sóc con non và những con cái khác có thể còn cho nó bú. Một nghiên cứu đã ghi nhận: con non được nhận nuôi sẽ do hai con cái và một con đực trong đàn chăm sóc. Con cái có thể bắt đầu giao phối khi đủ 4 tuổi trong khi con đực phải mất từ 4-5 năm. Vòng đời của chúng dài khoảng 25 năm.
Thức ăn của chúng chủ yếu bao gồm lá cây nhiều chất xơ. Thuộc phân loài Colobinae hay loài khỉ ăn lá, chúng có dạ dày to chia làm các túi chứa vi sinh giúp tách cellulose trong lá cây qua quá trình lên men, điều này khiến cho bụng của loài chà vá luôn phồng lên. Chúng cũng hay ợ do khí thải ra từ quá trình lên men này. Chà vá chân nâu thích ăn những lá non, nhỏ và mềm nhưng cũng thích hoa quả như quả sung, nụ, cuống lá, hoa và hạt.
Chúng lấy được đủ chất lỏng và protein chúng cần từ thức ăn mà không cần phải xuống tận mặt đất để uống nước. Loài khỉ này ăn tới 50 loại thực vật khác nhau nhưng không ăn thịt loài động vật nào. Thói quen ăn uống bừa bãi và hỗn tạp của chúng đã làm rơi nhiều thức ăn xuống mặt đất: lá khô, quả chưa chín hoặc hoa quả quá chín.
Chúng ăn một cách hòa bình bên cạnh nhau, chia sẻ thức ăn mà không tranh giành. Thường thì chúng chia sẻ một tán lá, chúng dùng tay tách tán lá đó ra chia cho nhau, đây là một hành động hào hiệp mà hiếm loài Khỉ cựu thế giới nào có.
Chà vá chân đen/Black-shanked Douc (Pygathrix nigripes)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primates
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Pygathrix
Loài (species): Pygathrix nigripes

Chà vá chân đen là một trong những loài voọc được tìm thấy ở khu vực sông Mekong, phía nam Việt Nam và đông Campuchia. Thức ăn gần như toàn lá. Dạ dày giống bò với 4 ngăn cho phép chúng tiêu hoá cellulose trong lá.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Chúng được tìm thấy trong rừng bán nhiệt đới, từ độ cao ngang mực nước biển lên đến 800 m. Ở Việt Nam, địa bàn của chúng gồm các khu rừng ven biển thuộc Vườn Quốc gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, rừng khộp trong Vườn Quốc gia Cát Tiên và rừng nhiệt đới trên núi ở Vườn Quốc gia Chư Yang Sin, tỉnh Đắk Lắk

Đặc điểm
Có thân lông xám với vết lông trắng ở mông. Lông vai và tay màu đen. Lông trên đầu màu xám nhưng có một vành đen phía trên trán. Chúng có vành râu quai nón màu trắng trong khi phía cổ thì lông màu đà, hung đỏ. Mắt chúng hơi xếch. Tay chà vá dài hơn chân. Đuôi dài, sắc lông trắng.
Khác biệt giữa ba loại chà vá là lông từ mông trở xuống. Chà vá chân đen, như tên đặt cho chúng, có cặp chân đen. Hai cánh tay cũng đen.
Thức ăn của chúng gần như toàn lá cây, thỉnh thoảng thêm trái cây và hoa.
Không như những loài khỉ khác, khi có biến chúng trở thành bất động nên dễ bị săn bắt.
Chúng sống trên cây. Trong một ngày, hai phần ba thời gian chúng nghỉ ngơi, thời gian còn lại để ăn và quan sát (Nguyen Van Truong). Khẩu phần ăn của chúng là các loại lá cây, đôi khi chúng ăn quả và các loại hạt, tỷ lệ phần trăm các loại này khác nhau phụ thuộc vào kiểu rừng (Le Khac Quyet). Tại Vườn Quốc gia Núi Chúa quần thể này có khoảng 500 – 700 cá thể (Jonathan C. Eames).
Voọc bạc đông dương/Germain’s Langur (Trachypithecus germaini)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus germaini

Lãnh thổ của loài có nguy cơ tuyệt chủng này kéo dài từ phía Nam Miến Điện qua miền Nam Thái Lan, Nam Lào, Campuchia tới miền Nam Việt Nam, chỉ ở tỉnh Kiên Giang. Chưa rõ toàn cầu hiện còn bao nhiêu con nhưng số lượng đang giảm dần.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Chúng xuất hiện ở rừng nhiệt đới, bán nhiệt đới, cả ở ven sông và rừng rụng lá hỗn hợp. Môi trường sống của chúng giống như của loài Voọc bạc an nam. Tuy nhiên, loài này sống xa hơn về phía Nam và chưa có ghi nhận cho thấy hai loài này sống chung trong một sinh cảnh.
Chúng xuất hiện ở Kiên Giang, Hòn Chông, Phú Quốc.

Đặc điểm
Voọc bạc có màu đen trên bàn tay, bàn chân và phần trên cơ thể của nó, sau đó chuyển dần sang màu xám nhạt hơn ở phần dưới. Chúng có đuôi dài màu xám và lông trắng trên khuôn mặt tròn. Con non của loài này có bộ lông màu cam sáng.
Chế độ ăn của voọc bạc là lá, chúng ăn cả lá, chồi và quả. Chế độ ăn này cần một thời gian nghỉ ngơi, vào lúc đó chúng có thể trải qua quá trình nhai lại.
Trachypithecus germaini giống như các loài voọc châu Á khác, là những loài linh trưởng phi xã hội. Chúng không ưa thích thực hiện các hành vi xã hội so với việc kiếm ăn và nghỉ ngơi, những hoạt động chiếm phần lớn thời gian trong ngày của chúng. Tuy nhiên, Trachypithecus germaini thường được quan sát thấy sống theo bầy gần gũi về mặt xã hội từ 10 đến 50 cá thể.
Những loài săn loài voọc, bao gồm cả voọc bạc, bao gồm báo hoa mai, hổ, chó săn và rắn lớn. Nhiều loài động vật ăn thịt nhỏ sẽ ăn voọc non.
Các mối đe dọa phổ biến đối với voọc bạc bao gồm săn bắn, buôn bán vật nuôi ngoại lai và mất môi trường sống do mở rộng nông nghiệp.
Voọc bạc an nam/Annamese Langur (Trachypithecus margarita)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus margarita

Loài voọc an nam có nguy cơ tuyệt chủng này đã từng xuất hiện rộng rãi ở miền Nam Trung Bộ Việt Nam, Nam Lào và Đông Campuchia bên bờ tây của sông Mekong. Loài này chỉ còn phân bố rải rác ở một số nơi do nạn săn bắt, môi trường sống bị mất, và gần đây ở Việt Nam rất ít khi thấy chúng.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Loài này xuất hiện ở rừng nhiệt đới, bán nhiệt đới, rừng rụng lá hỗn hợp, rừng ven sông, đặc biệt là ở đồng bằng. Rừng trên đồi thì ít khi thấy. Chúng được tìm thấy ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Tà Cú, Vườn Quốc gia Cát Tiên, Chư Mom Ray, Kon Ka Kinh và Yok Đôn.
Rừng ven sông là môi trường sống quan trọng cho loài này.

Đặc điểm
Bộ lông của loài có màu sáng hơn so với màu lông của loài Voọc bạc đông dương.
Hiện chưa ước tính được loài này còn bao nhiêu con, nhưng có một điều chắc chắn là số lượng loài này đang giảm. Săn bắt để lấy thịt, làm thuốc và sử dụng như thú cảnh là một trong những nguy cơ đe dọa đến loài này. Tập tính ăn đất nhiều Natri có thể do chúng ăn nhiều lá cây có độc, lượng natri này giúp chúng loại bỏ các chất gây nguy hiểm (Jonathan C. Eames).
Voọc xám/Indochinese Grey Langur (Trachypithecus crepusculus)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus crepusculus

Trước đây loài này được xếp chung và một phân loài với Voọc xám. Nhưng sau này được tách ra, loài này có nguy cơ tuyệt chủng được tìm thấy tại Trung Quốc, Thái Lan, Lào và Việt Nam.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Loài này được ghi nhận tại Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Mù Cang Chải tại Yên Bái và ở huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Loài này sinh sống ở rừng nhiệt đới nguyên sinh hay thoái hoá, rừng rụng lá hỗn hợp, và các khu tre mọc, đôi khi gần đồn điền. Rừng trên núi đá vôi cũng có ghi nhận sự xuất hiện. Tại Việt Nam, nó được tìm thấy ở một số khu bảo tồn như Vườn Quốc gia Pù Mát và Bến En, Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên và Pù Luông.

Đặc điểm
Đây là loài khỉ có thân hình thon nhỏ, trọng lượng 5 – 9 kg. Chúng có đặc điểm nhận dạng là bộ lông màu xám tro tới màu nâu đen, đỉnh đầu có mào lông xám, da bao quanh mắt có màu xanh và trắng. Lông ở vùng lưng thẫm hơn ở vùng bụng. Bên hông có các lông dài, đầu lông có ánh bạc. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi rất dài. Chân tay rất dài, chân tay có màu đen, phần trên cánh tay, chân và đuôi có màu xám bạc.
Voọc xám sống trong các khu rừng trên núi đá các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Chúng sống thành từng nhóm từ 3 – 30 cá thể. Chúng sống ở những vùng rừng cây cao trên núi đá vôi, không sống trên rừng hỗn giao tre nứa. Chúng hoạt động vào ban ngày. Cuộc sống leo trèo trên cây. Có thể gặp chúng kiếm ăn ở vùng đồi cây bụi gần rừng. Thường ngủ trên các vách núi đá vôi dựng đứng hoặc trên tán cây cao rậm kín gió.
Voọc xám sống chung với khỉ mốc, khỉ vàng nhưng không cạnh tranh về thức ăn. Thức ăn chủ yếu là quả 24,4%, lá 58,4%, các loại khác 9,7%. Kẻ thù tự nhiên là các loài thú ăn thịt cỡ lớn. Voọc xám sinh sản quanh năm. Đã gặp voọc cái có chửa vào tháng 3 và tháng 7. Gặp voọc mẹ mang con trên ngực vào các tháng 4, 6, 10, 12. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ màu vàng nhạt.
Voọc đen má trắng/Francois’s Langur (Trachypithecus francoisi)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus francoisi

Là loài voọc phân bố xa nhất về phía Bắc, xuất hiện từ miền Nam Trung bộ Trung Quốc đến miền Bắc Việt Nam. Loài voọc này đang bị đe doạ mới mức độ cực kì nghiêm trọng.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Chúng sống trên các núi đá vôi, loài này dùng các khe nứt và hang động làm chỗ ngủ (Le Khac Quyet).
Loài này sống rải rác ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang và Bắc Cạn. Quần thể lớn nhất còn tồn tại là ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Du Già, tỉnh Hà Giang.

Đặc điểm
Bộ lông dày, màu đen tuyền. Hai má trắng, đám lông trắng rộng vượt quá chỏm vành tai. Đầu thường có mào lông đen. Đuôi dài hơn thân, màu đen.
Voọc đen má trắng chủ yếu sống ở rừng trên núi đá vôi và kiếm ăn trong các dải rừng kín thường xanh tiếp giáp với rừng núi đá vôi gần vùng sống của chúng. Voọc đen má trắng sống thành đàn. Trước đây, đàn voọc thường rất đông, 20 – 30 con (Lê Hiền Hào, 1973), nhưng hiện nay phổ biến 5 – 15 con (Phạm Nhật, 2000).
Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Cường độ kiếm ăn của voọc má trắng diễn ra mạnh vào hai thời điểm, đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút. Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau. Mùa nóng Voọc rời chỗ ngủ sớm, về hang muộn và thời gian nghỉ trưa khá dài. Về mùa lạnh, chúng đi kiếm ăn muộn và về hang ngủ sớm. Voọc đen má trắng ăn lá chồi non và quả cây rừng, không ăn động vật.
Bước đầu đã ghi nhận được 44 loài thuộc 22 họ thực vật được Voọc đen má trắng sử dụng làm thức ăn (Pham Nhật, 2000). Có nhiều loài thực vật được Voọc đen má trắng thích ăn nhất là cây họ Dâu tằm Moraceae, Ba mảnh vỏ Ephorbiaceae, Cau dừa Arecaceae. Các số liệu nghiên cứu cho thấy tuy chúng ăn rất nhiều loại quả nhưng trong khẩu phần thức ăn thì khối lượng lá, đặc biệt là cuống chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại thức ăn quả và thân.
Voọc đen má trắng chủ yếu ngủ hang. Mùa nóng, chúng ngủ trên những tảng đá hoặc cây gỗ trước cửa hang, mùa lạnh ngủ trong hang. Hang ngủ của Voọc thường tìm thấy ở những nơi vách đá dựng đứng.
Dữ liệu sinh sản của Voọc đen má trắng còn thiếu. Quan sát thực địa thường gặp con mẹ mang con non ở các tháng khác nhau của năm, nhưng tập trung từ tháng 3 đến tháng 7. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ có bộ lông màu vàng
Voọc hà tĩnh/Hatinh Langur (Trachypithecus hatinhensis)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Cercopithecidae
Chi (genus): Trachypithecus
Loài (species): Trachypithecus hatinhensis

Loài Voọc hà tĩnh có nguy cơ tuyệt chủng này sinh sống ở một vùng nhỏ tại miền Trung Việt Nam, giới hạn ở Quảng Trị và Quảng Bình. Một số khác có thể tìm thấy tại Khammouane ngay bên cạnh Lào.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Voọc hà tĩnh sống trên các khối lớn nhất trong hệ thống núi đá vôi ở Đông Dương, ở đó chúng thích những ngọn đồi được rừng rậm bao phủ. Chúng được tìm thấy trong hai khu bảo tồn ở Việt Nam: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng ở tỉnh Quảng Bình và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị.

Đặc điểm
Chúng giành phần lớn thời gian ở trên cây. Sống thành từng đàn 7 – 8 con, gồm một con đực cùng với các con cái và con của chúng. Chúng bị đe dọa bởi nạn săn bắt, chủ yếu để làm thuốc. Chúng thường bị người ta bắt trên lối vào hang động của chúng (Le Khac Quyet).
Vượn đen má hung trung bộ/Northern Yellow-cheeked Crested Gibbon (Nomascus annamensis)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus annamensis

Được mô tả vào năm 2010 từ dữ liệu tiếng hú và di truyền học. Đây là loài được ghi nhận ở Trung Bộ, Việt Nam; phía Tây đến Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Đây là loài chưa được IUCN đánh giá nhưng được đưa vào diện loài nguy cấp do các tác động bởi săn bắn, mất sinh cảnh sống, và sinh cảnh sống của loài này hiện chỉ còn ở một phạm vi nhỏ.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Ở Việt Nam, loài này có phạm vi phân bố từ sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị đến sông Ba, tỉnh Gia Lai và tỉnh Phú Yên. Chúng được tìm thấy ở những khu rừng thường xanh từ độ cao 50 đến 1.205 m. Ở Việt Nam, loài này được ghi nhận ở tám Khu Bảo tồn khác nhau trong đó có Vườn Quốc gia Bạch Mã.

Đặc điểm
Loài vượn đen má hung Trung Bộ được mô tả là khá giống vượn đen má vàng Nomascus gabriellae. Khó phân biệt chúng với loài Vượn đen má vàng. Con cái được phân biệt bởi khuôn mặt, ở đỉnh đầu có màu tối và ngực có mảng tối (Tilo Nadler).
Con đực có màu lông đen và ít lông bạc, lông đen của chúng khi ra ánh sáng mặt trời lại có ánh bạc. Lông ngực màu nâu, lông dưới má hung vàng và mảng lông này không kéo dài lên phía trên mặt-khác với các loài vượn khác trong cùng chi. Con cái lông màu sáng hơn, màu da cam pha vàng be, có ít vệt đen trên đầu. Loài vượn đen má hung Trung Bộ phân biệt khá rõ với các loài vượn má sáng màu khác ở các đặc điểm tần số và nhịp độ phát âm thanh gọi bầy, cảnh báo kẻ địch xâm nhập lãnh địa.
Vượn đen má hung/Southern White-cheeked Crested Gibbon (Nomascus siki)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus siki

Loài này ban đầu được coi là một phân loài của Vượn đen má trắng miền bắc. Chúng có địa bàn sinh sống rất nhỏ ở Trung Lào và Việt Nam. Ở Việt Nam, loài này đang bị đe dọa bởi môi trường sống xé lẻ và nạn săn bắt kể cả trong các Khu Bảo tồn. Năm 2016, IUCN xếp chúng vào danh lục các loài nguy cấp (EN) và còn tới 86 đàn. Nhưng hiện nay vào lần cập nhật dữ liệu 2020 loài này đã được xếp lên mức CR tức mức cao nhất của tình trạng bảo tồn và suy đoán chỉ còn khoảng 600 cá thể.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Ở Việt Nam loài này sống ở rừng nhiệt đới, kể cả trên núi đá vôi từ 30 đến 1800 m, trong ba Khu Bảo tồn: Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Khu bảo tồn thiên nhiên Khe Nước Trong ở tỉnh Quảng Bình và Khu Bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá, Quảng Trị.

Đặc điểm
Đây là một loài ít được biết đến và hiện vẫn chưa có nghiên cứu về hành vi sinh thái của chúng (Nicolas Cornet). Ở con đực, màu trắng trên mặt lan quanh miệnh nhưng không tới tai. Con cái khó hơn để phân biệt với Vượn đen má trắng (Jeremy Holden).
Vượn đen má vàng/Southern Yellow-cheeked Crested Gibbon (Nomascus gabriellae)
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammalia
Bộ (ordo): Primate
Họ (familia): Hylobatidae
Chi (genus): Nomascus
Loài (species): Nomascus gabriellae

Loài vượn này sinh sống ở khu vực miền Nam Việt Nam và miền Đông Campuchia. Có họ hàng rất gần với Vượn đen má vàng miền Bắc và chỉ có thể phân biệt bằng tiếng hú. Ngoài phá rừng làm mất đi nơi sinh sống của chúng, con non của loài này được bắt làm thú nuôi là 2 nguyên nhân gây suy giảm chính của loài này.
Một số khu vực có thể xem và quan sát

Loài này sinh sống ở rừng thường xanh, rừng rụng lá từ độ cao 100 m đến 2.287 m so với mực nước biển. Ở Việt Nam chúng được ghi nhận ở 15 Khu Bảo tồn bao gồm Vườn Quốc gia Bidoup Núi Bà và Cát Tiên. Chúng bị suy giảm mạnh do nạn phá rừng trồng cà phê.
Vườn Quốc gia Cát Tiên và Bù Gia Mập được coi là 2 địa điểm có khả năng bảo vệ loài này tốt nhất với Cát Tiên 149 đàn, còn Bù Gia Mập là 124 đàn (Nicolas Cornet)

Đặc điểm
Các con đực và cái trong chi Nomascus có hai màu. Trong khi con đực màu đen, đặc trưng cho chi, thì con cái lại có màu sáng hơn (Nicolas Cornet).
Sự uyển chuyển của cơ bắp và xương giúp chúng dễ dàng bám vào cây để di chuyển. Loài này bị săn bắn nhiều do con non của chúng khá ưa nhìn và dễ nghe lời nên con mẹ của loài này thường bị bắn chết và con non sẽ bị bắt để bán làm thú nuôi, một trong những nguyên nhân chính gây nên sự đe dọa khủng khiếp đối với loài này.