Việt Nam là một quốc gia giàu có về đa dạng sinh học, giúp mang lại những lợi ích thết thực cho con người. Trong đó, Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Langbiang là nơi chứa đựng sự đa dạng về hệ sinh thái và nguồn gen cao.

Tuy nhiên, do áp lực của quá trình phát triển kinh tế và vấn đề dân số tăng nhanh, rất nhiều tài nguyên thiên nhiên quý giá tại đây có nguy cơ bị tàn phá, khai thác cạn kiệt hoặc thậm chí có thể mất đi.

Chính vì thế, đã có rất nhiều những Dự án về bảo tồn đa dạng sinh học tại đây được thực hiện như Dự án Quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vừng (SNRM, 2015 – 2020) đã góp phần xây dựng nên cơ chế quản lý hợp tác các hệ sinh thái giữa các bên liên quan, bao gồm người dân cơ quan quản lý và doanh nghiệp địa phương nhằm hướng đến mục tiêu chung giữ gìn đa dạng sinh học tại đây.

Tại bài viết này, hãy cùng WANEE tìm hiểu về những đặc điểm địa lý tại Khu Dự trữ sinh quyển (KDTSQ) Langbiang nhé!

Langbiang

Tổng quan về Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang

Vị trí địa lý và diện tích

Nằm trên địa bàn Thành phố Đà Lạt và các huyện Lạc Dương, Lâm Hà, Đam Rông, Đơn Dương và Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng), Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang có tổng diện tích 275.429 ha, bao gồm 34.943 ha vùng lõi, 72.232 ha vùng đệm và 168.264 ha vùng chuyển tiếp.

Langbiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển
Bản đồ phân vùng tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang (Nguồn: Sưu tầm)

Vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang nhằm bảo tồn các hệ sinh thái, sinh cảnh, loài và nguồn gen. Bên cạnh đó, vùng lõi đóng góp vào sự phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương thông qua chương trình chi trả dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái.

Vùng đệm của Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang nằm bao quanh và liền kề vùng lõi, bao gồm các khu rừng phòng hộ và rừng trồng. Vùng đệm hỗ trợ bảo tồn cho vùng lõi và hỗ trợ sự phát triển kinh tế cho cộng đồng địa phương cũng như các hoạt động giáo dục và nghiên cứu khoa học. Ở trong vùng đệm, có rất nhiều cảnh quan đẹp và địa danh nổi tiếng, bên cạnh đó còn là nơi lưu giữ những nét văn hoá bản địa của người dân tốc K’Ho.

Vùng chuyển tiếp gồm Thành phố Đà Lạt và các huyện lân cận cho đến vùng đệm. Khu vực này là trung tâm của sự phát triển kinh tế – xã hội trong vùng, thuận tiện cho các hoạt động du lịch và sản xuất nông – lâm nghiệp.

Đọc thêm: Vườn Quốc Gia Bidoup – Núi Bà hoàn toàn khác 101 Vườn Quốc gia khác tại Việt Nam

Đặc điểm địa hình

Nằm trên vùng cao nguyên Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang có địa hình thay đổi lớn. Nơi cao nhất là đỉnh Bidoup 2.287 m so với mặt nước biển và nơi thấp nhất nằm trong lưu vực của sông Krông Nô, giáp với tỉnh Đăk Lăk độ cao khoảng 600 m. Về mặt tổng thể địa hình nghiêng dần từ Đông sang Tây và thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam.

Địa hình bị chia cắt mạnh, độ dốc cao, được bao bọc bởi các dẫy núi chính như dãy Bidoup (cao 2.287 m), Gia Rích (1.922 m), Hòn Giao (2.060 m), Langbiang (2.167 m), Chư Yên Du (2.051) và Cổng Trời (1.882 m).

Langbiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển
Cao nguyên Langbiang (Nguồn: Sưu tầm)

Đặc điểm khí hậu

Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang nằm trong vùng khí hậu gió mùa nhiệt đới những vị trí địa lý và đặc điểm địa hình đa dạng cao nguyên tạo điều kiện hình thành kiểu khí hậu cận nhiệt đới đặc trưng riêng của khu vực. Theo Nguyễn Khanh Vân (2000), khí hậu của KDTSQ Langbiang có thể được xếp vào loại nhiệt đới gió mùa vùng núi.

Khu vực Đà Lạt có lượng mưa trung bình khoảng 1.865 mm/năm và tập trung nhiều từ tháng 7 đến tháng 10. Mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau; những tháng còn lại được xem là mùa mưa với lượng mưa trung bình đều ở mức cao trên 150 mm/tháng. Tuy nhiên, có sự biến động về lượng mua và nhiệt độ qua mỗi năm.

Tại một số đai cao trên 1.900 m thuộc vùng lõi của Khu Dự trữ sinh quyển, như các dãy núi Bidoup, Hòn Giao, Gia Rích và Chư Yên Du thì lượng mưa có thể đạt 2.800 – 3.000 mm/năm và số ngày mưa cũng giao động cao hơn nhiều. Lượng mưa cao kết hợp với độ ẩm cao và sương mù nên trên các đỉnh núi cao (Bidoup và Hòn Giao) đã hình thành các kiểu rừng rêu đặc trưng cho khu vực này.

Langbiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển
Sương mù dày đặc xung quanh những ngọn núi ở rừng Langbiang (Sưu tầm)

Đặc điểm thuỷ văn

Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang là nơi bắt đầu của một số hệ thống sông suối đổ về miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Phần thượng nguồn của hệ thống lưu vực sông Đa Nhim – Đa Dâng – Đồng Nai gồm hai nhánh chính là sông Đa Nhim và Đa Dăng, với diện tích lưu vực tính đến hợp lưu ở chân núi Bon Ron là 3.235 km2 , kể cả lưu vực hồ Đơn Dương. Sông Đồng Nai là nguồn nước quan trọng cho vùng Đồng Nam Bộ.

Sông Krông Nô bắt nguồn từ dãy núi Hòn Giao của Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà chảy dọc theo ranh giới giữa Lâm Đồng và Đăk Lăk. Sông Krông Nô có diện tích lưu vực 3.920 km2 , gồm hai nhánh chính là Đa K’Rông Nô và Đa R’Mang, sau khi hợp lưu chảy về phía Bắc và đồ vào sông Srêpok thuộc hệ thống sông Mekong.

KDTSQ có nhiều hồ chứa nước phần lớn là các hồ nước nhân tạo cung cấp nước cho nhiều mục đích khác nhau, như hồ Đơn Dương cung cấp nước cho Nhà máy thuỷ điện Đa Nhim; hồ Đankia – Suối Vàng cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Đà Lạt và nhà máy thuỷ điện Ankroet; hồ Xuân Hương; Đa Thiện; hồ Than Thở; hồ Tuyền Lâm;…. phục vụ cho du lịch.

Đặc trưng về thỗ nhưỡng

Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang là nơi có sự đa dạng về đất đai và địa hình chia cắt mạnh. Hầu như toàn bộ diện tích là đồi nũi với lượng mưa hăng năm dồi dào nên dễ bị tác động mạnh của quá trình rửa trôi, quá trình phân huỷ khoáng sét và khoáng hoá các hợp chất hữu cơ diễn ra mạnh mẽ. Do đó, các loại đất thường có dung tích hấp thu kém, chua, nghèo kali, nghèo lân và một số loạt đất còn nghèo mùn.

Toàn bộ Khu Dự trữ sinh quyển có 14 loại đất chia thành bảy nhóm khác nhau, bao gồm:

Loại đấtTỷ lệ diện tích (%)
Đất đỏ vàng84,69
Đất mùn vàng đỏ trên núi11,94
Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ1,47
Đất phù xa1,25
Đất xám bạc màu0,27
Mùn vàng đỏ trên núi0,24
Đất đen0,14

Nhóm đất đỏ vàng chiếm diện tích lớn nhất, bao phủ hầu hết KDTSQ Langbiang, trong đó ba loại đất phổ biến nhất là: Đất vàng đỏ trên đá mắc qua axit (31,19%), đất đỏ vàng trên đá mắc ma trung tính (25,19%) và đất đỏ vàng trên đá sét và đã biến chất và axit yếu (20,74%). Nhóm đất đen chiếm tỷ lệ thấp nhất (0,14%) tại một số khu vực nhỏ ven các lưu vực sông, suối với loại đất nâu thẫm trên sản phẩm phong hoá đá bọt và bazan.

Hầu hết đất đai tại Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang đều là đất chua, có dung tích hấp thụ và bão hoà bazo thấp song cũng có một số loài đất ít chưa như các loại đất phù sa, tích tụ. Hàm lượng dinh dưỡng ở trong đất nhìn chung ở mức trung bình và có sự chêch lệch khá lớn giữa các loại đất. Tuy nhiên, theo phần lớn cả tỉnh Lâm Đồng và khu vực Tây Nguyên thì Cao nguyên Langbiang vãn là một vùng đất màu mỡ, có độ phì nhiêu khá cao và thích hợp cho nhiều loại cây trồng.

Langbiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển
Đất vàng đỏ trên đất mắc ma axit (Nguồn: Sưu tầm)

Đặc điểm dân cư

Tổng số dân cư trong KDTSQ Langbiang là 387.714 người (năm 2014). Trong đó, có 1.182 người sinh sống trong vùng lõi (thuộc các thôn Đưng Ksi và Klong Klanh thuộc xã Đa Chais, huyện Lạc Dương), 27.730 người sinh sống trong vùng đềm và 361.802 người sinh sống trong khu vực chuyển tiếp.

Thành phần dân tộc ở Khu Dự trữ sinh quyển Langbiang rất đa dạng với 13 dân tộc cùng sinh sống, trong đó người Kinh chiếm đa số. Bên cạnh đó, nơi đây là nơi cư trú của nhiều tộc người thiểu số bản địa, trong đó đông nhất là các nhóm dân tộc người K’Ho, như Cil, Lạch và T’ring. Ngoài ra, còn có các dân tộc người khác như Mạ, M’Nông và Churu.

Các dân tộc người bản địa sống ở vùng núi rừng thuộc vùng đệm của KDTSQ, trong khi các tộc người di cư như Kinh, Hoa, Khmer, H’Mông, Tày, Nùng,…. tập trung ở khu vực thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận thuộc vùng chuyển tiếp của KDTQG.

Langbiang: Khám phá vẻ đẹp và đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh quyển
Điệu múa dân tộc K’Ho (Nguồn: Sưu tầm)

Văn hoá “ăn rừng” của dân tộc bản địa, các tộc người bản địa trên Cao nguyên Langbiang từ xưa đã gắn bó mật thiết với rừng. Rừng vừa là ngồi nhà, vừa là nơi cung cấp thức ăn để nuôi sống họ. Hầu như mọi thứ trong làng, trong nhà đều có nguồn gốc từ rừng, từ cây cột trâu để tế thần, đến nhà ở, rau để ăn và thuốc dược liệu chữa bệnh. Do đó, đối với họ, rừng là tâm linh, cội nguồn văn hoá và cũng là khởi nguồn hình thành tín ngưỡng đa thần (thờ các đấng thần linh như thần rừng, thần sông và suối,..)

Bên cạnh việc họ tận dùng những vật liệu từ rừng để đáp ứng nhu cầu sinh kế trong cuộc sống thì những dân tộc bản địa còn góp phần bảo vệ và giữ gìn những cánh rừng. Rừng là đầu nguồn cho các con suối cung cấp nước để sử dụng hàng ngày, cung cấp thuốc chữa bệnh,…

Rừng là cội nguồn của văn hoá truyền thống của dân tộc bản địa Cao nguyên Lâm Viên – Nóc nhà Tây Nguyên hùng vĩ, nơi chưa đựng kho tri thức dân gian văn hoá phong phú được tích luỹ và đúc kết qua nhiều thế hệ trong quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên và xã hội.

Tổng kết

WANEE Vietnam trân trọng gửi đến bạn những thông tin về đặc điểm địa lý của Khu Dự trữ sinh Quyển Langbiang. WANEE Hy vọng đây sẽ là những thông tin thiên nhiên bổ ích dành cho bạn khi bạn đang tìm hiểu về vùng Cao nguyên này. Chúc bạn có những trải nghiệm và khám phá thiên nhiên một các trọn vẹn nhất.

Đọc thêm: 5 loài chim đặc hữu của Cao Nguyên Lâm Viên – tỉnh Lâm Đồng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

wanee_outdoor_shop