Tổng quan về Vườn quốc gia Nam Cát Tiên

Cát Tiên vừa là rừng phòng hộ đầu nguồn cho sông Đồng Nai vừa là vùng bán sơn địa, chất chứa nguyên khí từ vùng địa hình núi thấp chuyển tiếp từ vùng cao Nam Tây Nguyên xuống vùng đồng bằng với 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô.

Từ một vùng rừng cấm với diện tích 31.000 ha (1978), cho đến sự kiện được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới và thứ 2 của Việt Nam (2001) là một quá trình miệt mài phấn đấu cho những di sản thiên nhiên quý giá.

Bản đồ Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
Trích trang 8-9 Vùng Trắc Địa

Các chương trình định canh, định cư, di dân khỏi vùng rừng trọng yếu, lập nên vành đai vùng đệm cho người dân tộc thiểu số, ổn định đời sống, giáo dục nhận thức như một cuộc chuyển hoá mãnh liệt và triệt để trả lại thiên nhiên hoang sơ, quý giá cho rừng Cát Tiên.

Vườn Quốc gia Cát Tiên có 21 trạm kiểm lâm được đặt bao quanh. Nhờ những trạm bảo vệ nghiêm ngặt này mà các hoạt động săn bắn trái phép động vật hoang dã, khai thác gỗ bất hợp pháp, đốt rừng làm nương rẫy được ngăn chặn và kiểm soát. Đồng thời, nhờ chính sách bảo tồn từng bước hoàn thiện qua thời gian mà nay Cát Tiên đã trở thành một mô hình mẫu, thực hiện được các chức năng: bảo tồn, hợp tác nghiên cứu, cứu hộ và tái thả động vật hoang dã, phát triển sinh vật, tổ chức tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và dịch vụ môi trường rừng.

Khi đến thăm Cát Tiên, bạn sẽ có ý thức trân trọng hơn, mở rộng tầm nhìn để cảm nhận một vùng rừng mưa nhiệt đới hoang sơ được cấu thành từ “hạ tầng sinh thái” có tổ chức trong vòng tròn khép kín của chu trình sống

Booklet “Vườn quốc gia Nam Cát Tiên – Trải Nghiệm Rừng Nhiệt Đới” Được uỷ quyền bởi Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Đức (BMZ), Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ trong khuôn khổ Chương trình “Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học và các hệ sinh thái rừng tại Việt Nam” và đội ngũ biên tập. Giúp bạn có thể hiểu hơn về khu vực này.

Xem bản Full FDF: Vườn quốc gia Nam Cát Tiên

Vườn quốc gia Nam Cát Tiên - Rừng Nhiệt Đới trong top 4 rộng nhất tại Việt Nam
Trích trang 14 – 15 Cuộc Chiến Sinh Tồn

Đa dạng sinh học tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên

Nam Cát Tiên là một trong số 4 Vườn quốc gia rộng nhất của Việt Nam, là một vùng đất hoang sơ với hệ sinh thái đa dạng, phong phú, nên các loài động, thực vật được tự do sinh trưởng và phát triển.

Hệ thực vật

Danh lục thực vật tại Vườn Quốc Gia Nam Cát Tiên hiện nay đã xác định được 1.610 loài thuộc 724 chi, 162 họ và phụ họ, 75 bộ thực vật bậc cao có mạch, với thành phần loài chiếm ưu thế thuộc họ sao dầu (Dipterocarpaceae), họ đậu (Fabaceae) và họ tử v(Lythraceae). Có thể kể tên một số loài cây quý hiếm có tên trong sách đỏ như: gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), gõ mật (Sindora siamensis), cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis), cẩm lai nam (D. cochinchinensis), cẩm lai vú (Dalbergia mammosa), giáng hương (Pterocarpus macrocarpus)

Hệ thực vật Vườn quốc gia Cát Tiên được chia thành 5 kiểu rừng chính:

Rừng lá rộng thường xanh: ưu thế là các loài cây gỗ thuộc họ dầu như dầu rái, dầu lông, cẩm lai Bà Rịa, gỗ đỏ, giáng hương…

Rừng lá rộng thường xanh nửa rụng lá: thành phần các loài cây gỗ rụng lá trong mùa khô như bằng lăng (Lagerstoemia calyculata), tung (Tetrameles nudiflora), râm (Anogeissus acuminata)… 

Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa: đây là kiểu rừng thứ sinh nhân tác của rừng thường xanh và nửa rụng lá, do bị lửa rừng, chất độc hóa học, rừng bị mở tán và tre nứa xen vào. Thành phần cây gỗ thường gặp là vấp (Mesua sp.), bằng lăng (Lagerstoemia calyculata)… hai loài tre chủ yếu là lồ ô (Bambusa procera) và mum (Gigantochloa sp.). 

Rừng tre nứa thuần loại: đây cũng là kiểu rừng phụ thứ sinh nhân tác, sau khi rừng bị phá làm nương rẫy rồi bỏ hoang hóa, các loài tre nứa xâm nhập và phát triển.

Thảm thực vật đất ngập nước: thực vật ưu thế là các loài cây gỗ chịu nước như bồ am (Colona sp.), lộc vừng (Barringtonia racemosa) xen lẫn với lau (cỏ đế) (Erianthus arundinaceus), lách (Saccharum spontaneum)…

Hệ động vật

Vườn quốc gia Cát Tiên có hệ động vật đa dạng và phong phú về thành phần loài, các loài quý hiếm có ý nghĩa bảo tồn nguồn gen trên toàn thế giới. Khu hệ động vật của VQG Cát Tiên có những nét đặc trưng của khu hệ động vật vùng bình nguyên Đông Trường Sơn, có quan hệ chặt chẽ với Tây Nguyên.

Nhóm thú

Các nghiên cứu đã ghi nhận được ở Cát Tiên có 113 loài thú, thuộc 38 họ và 12 bộ. Trong đó có tới 43 loài thú đang bị đe doạ tuyệt chủng trong nước và trên toàn cầu với 38 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007).

Ngoài ra, còn có 18 loài và phân loài thú là đặc hữu cho tiểu vùng địa sinh học Đông Dương và đặc biệt có 3 loài và phân loài là đặc hữu cho Việt Nam là chà vá chân đen, tê giác một sừng Việt Nam và hoẵng Nam bộ. Tỷ lệ các loài đặc hữu cao đã nâng cao tầm quan trọng của VQG Cát Tiên đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong nước và trên thế giới.

Nhóm chim

Gồm 351 loài thuộc 64 họ của 18 bộ. Trong đó có 17 loài quí hiếm đã được phát hiện và có tên trong sách đỏ Việt Nam. Nếu so sánh với cấu trúc thành phần loài của khu hệ chim Việt Nam, thì có thể nói Cát Tiên là một “đất nước thu nhỏ” của các loài chim rừng Việt Nam.

Khu hệ chim Việt Nam có 19 bộ thì tại Nam Cát Tiên có 18 bộ (94,74% tổng số bộ chim Việt Nam), 64 họ chiếm đến 79,01% tổng số họ chim của Việt Nam (81 họ). Với 351 loài chim chiếm 42,39% tổng số loài chim của Việt Nam (828 loài).

Một số loài chim quí hiếm có ở Nam Cát Tiên như: hạc cổ trắng, công, già đẫy java, quắm cánh xanh, ngan cánh trắng, gà so cổ hung. Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trong vùng chim đặc hữu (EBA) vùng đất thấp nam Việt Nam, có quần thể của 3 loài chim trong vùng chim đặc hữu là: gà so cổ hung, gà tiền mặt vàng, chích chạch má xám .

Nhóm bò sát, lưỡng cư

Các loài bò sát có 109 loài thuộc 17 họ và phân họ, 4 bộ, trong đó có 18 loài có tên trong sách Đỏ Việt Nam như: cá sấu Xiêm,trăn gấm, trăn đen …
Các loài lưỡng cư có 41 loài thuộc 6 họ, 2 bộ trong đó có 3 loài được ghi tên trong sách đỏ Việt Nam như cóc mắt chân dài , cóc rừng, chàng andecson .

Nhóm côn trùng

Ghi nhận được 756 loài thuộc 68 họ, 10 bộ. Riêng các loài bướm đã xác định được 450 loài, chiếm hơn 50% tổng số loài bướm được ghi nhận ở Việt Nam. Các loài quý hiếm có 2 loài là bướm phượng (Sách Đỏ Việt Nam năm 2007) và bướm phượng cánh sau vàng, bướm phượng cánh kiếm..

Nhóm cá nước ngọt

Gồm 159 loài, thuộc 29 họ, 9 bộ. Trong đó, có 1 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 và Sách Đỏ IUCN 2008.

Trân trọng giới thiệu,

wanee_outdoor_shop